Lần đầu tiên bốn người thực sự ngồi lại bàn chuyện hợp tác là tại cửa tiệm nhỏ cạnh khu chợ cũ Kỳ Sơn.

Khi kéo cửa sắt lên, bên trong vẫn còn đầy bụi. Tố Mai đặt bốn chiếc ghế nhựa, không chuẩn bị bánh trái, cũng chẳng làm lễ "khai trương".

Lệ Khanh, Mỹ Châu, Thục Phân đều đến đủ.

Trên bàn đặt bốn bản biểu giống hệt nhau: thiết bị của mỗi người, kỹ năng, nhu cầu về mức lương tối thiểu theo giờ, thời gian có thể cống hiến, và những công việc không muốn đảm nhận.

Lệ Khanh viết trước: "Không nhận đơn gấp vào đêm khuya."

Mỹ Châu viết: "Không ứng trước tiền vật liệu cho khách."

Thục Phân viết: "Không coi chi phí đi lại là miễn phí."

Tố Mai đọc xong, cầm bút bổ sung một dòng: "Giá cả không được chỉ do một mình tôi quyết định."

Lệ Khanh liếc nhìn bà. "Dòng này là quan trọng nhất."

Bốn người bắt đầu kiểm kê thiết bị.

Tố Mai có máy may bằng, máy vắt sổ và vải tồn kho; Lệ Khanh có máy may cũ, am hiểu về sườn xám, khóa kéo và sửa cạp quần; Mỹ Châu có máy hai kim, từng làm mái che mưa và vải dày; Thục Phân giỏi về đồng phục học sinh, đính tên và thêu thùa đơn giản.

Họ không định giá thiết bị một cách ảo tưởng.

Tham khảo giá thị trường đồ cũ, họ liệt kê giá trị đầu tư sau khi đã khấu hao; ai không muốn biến máy móc thành tài sản chung thì tính theo hình thức cho thuê.

Thời gian lao động là thứ khó nhất.

Tố Mai trước đây quen báo giá theo sản phẩm, ai làm nhanh thì người đó hưởng. Lệ Khanh nói làm vậy cuối cùng vẫn sẽ chèn ép những người làm chậm và làm các công đoạn khó.

Vì thế, họ quyết định tháo rời từng công đoạn của mỗi đơn hàng rồi báo giá theo thời gian dự kiến. Nếu thời gian thực tế chênh lệch quá nhiều, cuối tháng sẽ xem xét lại mô hình báo giá.

"Như vậy khách sẽ chê đắt," Tố Mai nói.

Lệ Khanh đáp: "Chê đắt thì đừng làm."

Câu nói này trước đây Tố Mai không bao giờ nói ra được.

Bà đã quá quen với nỗi sợ không có đơn hàng.

Mỹ Châu lấy ra một chiếc sơ mi cũ.

"Tính từ cái này trước."

Bốn người thực sự tính toán từ kh//âu tháo cúc, vá rá/ch, ủi phẳng cho đến túi đựng giao hàng. Cuối cùng, giá báo cho một chiếc áo sơ mi sửa thông thường cao hơn so với một số tiệm sửa đồ nhanh trên thị trường.

Tố Mai cau mày.

"Thế này khách sẽ bỏ đi mất."

Thục Phân nói: "Vậy thì xem chúng ta có giải thích rõ ràng được không. Không phải khách hàng nào cũng cần giữ lại."

Bốn người tranh cãi suốt hai tiếng đồng hồ trong lần đầu tiên.

Cuối cùng không ai thắng ai.

Họ quyết định chạy thử nghiệm ba tháng, số lượng đơn hàng, thời gian làm việc thực tế và tỷ lệ sửa lại sẽ được công khai mỗi tuần; nếu thu nhập không nuôi nổi bốn người thì sẽ rút ngắn giờ mở cửa, chứ không c/ắt giảm lương tối thiểu trước.

Tên tiệm cũng tranh cãi rất lâu.

Tố Mai ban đầu muốn đặt là "Sửa đồ Tố Mai", Lệ Khanh lập tức nói: "Thế thì vẫn là tiệm của cô thôi."

Cuối cùng bốn người tạm gọi là "Tiệm vá víu Kỳ Mỹ".

Đây không phải là tên hợp tác xã chính thức, chỉ tạm dùng làm hình ảnh bảng hiệu, còn hình thức tổ chức thực sự sẽ tham vấn sau khi vận hành ổn định.

Buổi chiều, họ cùng nhau dọn dẹp cửa tiệm.

Tử An tan làm ghé qua, thấy bốn người phụ nữ đang sơn tường, câu đầu tiên cậu nói không phải là phản đối, mà là hỏi: "Sổ sách đâu?"

Tố Mai lấy từ trong ngăn kéo ra một tệp hồ sơ.

"Tiền mặt, chuyển khoản, vật liệu, giờ công được tách riêng."

Tử An lật xem hai trang.

"Lần này mẹ thực sự có làm."

Tố Mai hơi bực. "Chứ sao nữa?"

"Trước đây mẹ toàn bảo là ghi nhớ trong đầu."

Bà không thể phản bác.

Lệ Khanh ở bên cạnh cười: "Con trai cô quản lý sổ sách giỏi hơn cô đấy."

Tố Mai lườm bà.

Tối đến khi xong việc, bốn người ngồi ở hiên nhà ăn cơm hộp.

Mỹ Châu bỗng nói: "Tôi gh/ét nhất là lúc cô gọi điện thoại trước đây."

Tố Mai dừng đũa.

"Tại sao?"

"Vì cứ cô gọi là đơn hàng gấp. Nói cứ như là không nhận thì là không ủng hộ cô hết mình vậy."

Tố Mai cúi đầu.

"Sau này tôi sẽ không như thế nữa."

Lệ Khanh nói: "Đừng chỉ nói là không. Hãy viết phí đơn gấp vào quy định đi."

Bốn người lập tức thêm một điều khoản: Nếu có đơn gấp tạm thời và có người sẵn sàng nhận, phí làm gấp sẽ được liệt kê riêng, không ai có nghĩa vụ phải làm.

Tố Mai nhìn vào tờ giấy đó, đột nhiên cảm thấy vững tâm hơn bất kỳ dải băng đỏ khai trương nào.

Họ không phải cứ thất nghiệp cùng nhau là tự động trở thành chị em.

Họ chỉ là sẵn sàng viết rõ ràng những chỗ trước đây dễ dàng chèn ép người khác nhất.

Trước khi mở tiệm, họ còn làm một việc mà trước đây ai cũng thấy phiền: kiểm kê từng cuộn vải tồn kho.

Có những loại làm miếng vá được, có loại hợp làm lớp Iót, có loại bạc màu nghiêm trọng chỉ có thể dùng làm vải tập may. Tố Mai vốn định dùng một con số "tồn kho" để gộp tất cả lại, nhưng Mỹ Châu nói: "Mục đích khác nhau thì giá trị khác nhau, không thể vì là cô m/ua mà cái gì cũng tính là tài sản chung."

Bốn người cuối cùng đá/nh giá lại giá trị dựa trên mức độ sử dụng được.

Tố Mai cười bảo: "Các cô bây giờ giỏi bắt lỗi tôi lắm."

Lệ Khanh đáp: "Hợp tác chính là để mọi người cùng bắt lỗi nhau."

Nghe xong, bà lại thấy an tâm.

Trước đây làm quản lý, không ai phản bác bà được coi là hiệu suất; giờ có người phản bác, ngược lại cho thấy sổ sách là của cả bốn người. Chiều hôm đó, họ dán một tờ giấy nhỏ phía sau bàn làm việc: "Hỏi xem ai muốn làm trước, rồi mới hỏi giá bao nhiêu."

Không phải khẩu hiệu, chỉ là để ngăn họ khi bận rộn lại quên mất.

Trước khi mở cửa, bốn người cùng ký vào bản ghi nhớ hợp tác đầu tiên, mỗi người giữ một bản.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Sau khi bàn giao công việc tại doanh trại, cô không cùng chồng thanh mai trúc mã chuyển về đảo chính.

Chương 10
Tại Mã Công, Bành Hồ, nữ sĩ quan hậu cần hải quân 38 tuổi Tạ Nghi Đình đã mãn hạn phục vụ. Chồng cô, Trịnh Khải Văn, chuẩn bị nhận công tác mới tại Cao Hùng. Gia đình hai bên đều mặc định rằng cô sẽ theo chồng trở về đảo chính để chăm sóc bố mẹ chồng. Khải Văn thậm chí đã đăng ký nhà ở cho vợ chồng mà không hề hỏi ý kiến Nghi Đình, trong khi cô đã giành được suất đào tạo chuyên viên quản lý thiết bị tại Trung tâm Đào tạo nghề Bành Hồ. Khi cả hai cùng ngồi lại bàn bạc về tiền trợ cấp xuất ngũ, chi phí thuê nhà, đi lại, lịch trực, việc phụng dưỡng người lớn tuổi và các chứng chỉ nghề nghiệp của mỗi người, họ mới nhận ra những nỗi thất vọng bấy lâu bị che đậy bởi suy nghĩ "thanh mai trúc mã thì phải hiểu nhau". Mười năm trước, Khải Văn từng từ bỏ cơ hội thăng tiến để ở lại Bành Hồ cùng vợ, nhưng sự im lặng kéo dài đã khiến sự hy sinh ấy dần trở thành một kiểu đòi hỏi ngầm; Nghi Đình cũng thừa nhận mình đã coi sự nhượng bộ của chồng là điều hiển nhiên mà không cần cảm ơn. Ngày tiệc chia tay đơn vị trùng với hạn chót trả lời nhận việc mới của cả hai, họ từ chối để người lớn quyết định thay, quyết định duy trì cuộc hôn nhân xa cách giữa Bành Hồ và Cao Hùng trong một năm, đồng thời liệt kê chi tiết các khoản phí đi lại, tần suất về nhà, kế hoạch chăm sóc người già và lịch kiểm điểm theo quý. Nghi Đình hoàn thành việc chuyển đổi nghề nghiệp, Khải Văn cũng nhận công việc mới tại Cao Hùng. Một năm sau, anh dựa vào năng lực chuyên môn của mình để phỏng vấn một công việc mới tại Bành Hồ. Cuối cùng, hai vợ chồng đã xây dựng tổ ấm chung tại Mã Công, việc chăm sóc bố mẹ chồng được san sẻ giữa anh chị em trong nhà và các nguồn lực chăm sóc dài hạn, không còn phải dùng sự hy sinh sự nghiệp của một trong hai người để chứng minh tình yêu nữa.
0