Tôi nói: “Không quen.”
Cô ấy nhìn tôi một cái rồi không hỏi thêm nữa.
Nhưng tôi biết cô ấy không tin.
Bởi vì khi tôi nói “không quen”, giọng tôi đang run lên.
Tôi cứ ngỡ anh ta ở lại hai ngày rồi sẽ đi.
Kết quả là không.
Ngày thứ ba, Chu Niệm từ bên ngoài trở về, nói với tôi:
“Cậu bạn kia vẫn đang đứng ở cổng trường kìa. Hôm nay trời mưa, cậu ấy cũng không che ô.”
Tôi đang đọc sách, ngón tay khựng lại một chút.
“Liên quan gì đến tôi.” Tôi nói.
“Ồ.” Chu Niệm không nhiều lời thêm nữa.
Nhưng tôi lật một trang sách, phát hiện ra dòng chữ vừa rồi hoàn toàn không lọt vào đầu.
Ngày thứ tư, bạn cùng phòng Tiểu Trần từ điểm nhận chuyển phát nhanh về, đưa cho tôi một phong bì.
“Có người nhờ mình chuyển cho cậu.”
Tôi mở ra, bên trong là một tờ quảng cáo của quán lẩu.
Mặt sau viết một dòng chữ:
“Anh đã thuê nhà gần đây. Không phải muốn làm phiền em, chỉ là muốn ở gần em hơn một chút.”
Tôi nhìn rất lâu.
Sau đó x/é nát tờ quảng cáo, vứt vào thùng rác.
Nhưng đêm đó, tôi mất ngủ.
Trằn trọc mãi, trong đầu toàn là hình ảnh anh ta đứng trong mưa.
Tôi mở điện thoại, lướt đến khung chat của cô bạn thân.
Cô ấy đã lâu không nhắc đến Trần Tự với tôi, chắc là sợ tôi phiền.
Tôi nghĩ ngợi một hồi, vẫn không gửi tin nhắn.
Tắt màn hình, ép bản thân phải ngủ.
Qua thêm vài ngày, cô bạn thân chủ động tìm tôi.
Cô ấy gửi một ảnh chụp màn hình, là vòng bạn bè của Trần Tự.
Anh ta đăng một đĩa đồ ăn, món cá nấu cay đỏ rực.
Chú thích là: “Ngày đầu tiên. Cay đến phát khóc.”
Bên dưới có người bình luận: “Cậu không phải không ăn được cay sao?”
Anh ta trả lời: “Đang học.”
Cô bạn thân nói: “Bây giờ ngày nào cậu ta cũng học nấu một món Tứ Xuyên, món cay ấy. Hồi trước cậu ta ăn một cánh gà cay thôi cũng phải uống ba cốc nước.”
Tôi nhìn bức ảnh đó, trong lòng có thứ gì đó khẽ lay động.
Nhưng chỉ là một chút.
Tôi nói: “Liên quan gì đến tôi.”
Cô bạn thân gửi một icon thở dài.
Qua thêm vài ngày, cô ấy lại gửi ảnh chụp màn hình.
“Ngày thứ bảy. Món th!t nấu cay hôm nay hình như không cay lắm nữa. Hoặc là, lưỡi mình đã tê dại rồi.”
Ảnh đính kèm là một đĩa đồ ăn đầy dầu ớt, bên cạnh đặt một hộp th/uốc dạ dày.
Ngón tay tôi dừng lại trên bức ảnh đó.
Dạ dày anh ta không tốt.
Lần năm lớp mười một đi ăn lẩu cùng tôi, xuất huyết dạ dày cấp tính, phải vào viện.
Bây giờ anh ta ăn cay như vậy, là không cần mạng nữa sao?
Tôi gõ mấy chữ, rồi lại xóa đi.
Cuối cùng chẳng gửi gì cả.
Cô bạn thân không đợi được nữa, trực tiếp gọi điện đến:
“Dạng Dạng, cậu ấy nói cậu ấy muốn ôn thi lại.”
Tôi sững người: “Cái gì?”
“Cậu ấy vốn đã được trường đại học ở địa phương nhận rồi, nhưng cậu ấy từ bỏ. Cậu ấy nói muốn ôn thi lại một năm, thi vào trường ở Bắc Kinh.”
“Cậu ta đi/ên rồi à?” Tôi thốt lên.
Cô bạn thân im lặng một lúc: “Cậu ấy nói, cậu ấy muốn đến nơi có cậu.”
Tôi cầm điện thoại, không biết phải nói gì.
“Dạng Dạng,” cô bạn thân cẩn thận hỏi, “cậu đối với cậu ấy, thật sự không còn chút cảm giác nào nữa sao?”
Tôi há miệng, không nói nên lời.
“Thôi, mình không hỏi nữa.” Cô bạn thân cúp máy.
Đêm đó, tôi ngồi bên hồ Vị Danh đến rất muộn.
Mùa thu Bắc Kinh đến sớm, ban đêm đã hơi se lạnh.
Tôi nhớ về mùa đông năm lớp mười một ấy, anh ta đội mưa đi m/ua bánh ngọt cho tôi.
Toàn thân ướt sũng, nhưng hộp bánh lại khô ráo.
Khi đó, trong mắt anh ta có ánh sáng.
Bây giờ, trong mắt anh ta chỉ có sự hối lỗi.
Thế nhưng.
Hối lỗi không phải là yêu.
Tôi không muốn vì sự hối lỗi mà bị một người theo đuổi quay lại.
Như vậy đối với ai cũng không công bằng.
Giữa tháng Chín, Bắc Kinh bắt đầu nổi gió lớn.
Cuộc sống của tôi mỗi ngày là ba điểm một đường: thư viện, nhà ăn, ký túc xá.
Những ngày tháng trôi qua bình lặng và phong phú.
Tôi tham gia câu lạc bộ tranh biện, quen biết một nhóm người rất thú vị.
Có một bạn nam tên là Cố Ngôn, khoa Toán, vẻ ngoài rất sạch sẽ.
Cậu ấy mời tôi đi thư viện tự học hai lần, tôi không từ chối.
Nhưng cũng chỉ có vậy mà thôi.
Chu Niệm hỏi tôi: “Cậu có phải có ý với Cố Ngôn đó không?”
Tôi nói: “Không.”
“Vậy sao cậu lại đi tự học cùng cậu ấy?”
“Vì vở ghi chép của cậu ấy làm rất tốt.”
Chu Niệm đảo mắt.
Thực ra tôi biết mình đang làm gì.
Tôi đang dùng mọi việc để lấp đầy cuộc sống, không để cho bản thân khoảng trống để nhớ về người đó.
Nhưng có những thứ, không phải cứ muốn trốn là trốn được.
Một ngày cuối tháng Chín, Bắc Kinh đổ một trận mưa lớn.
Tôi từ tòa nhà giảng đường bước ra, không mang ô.
Đứng ở cửa đợi hai mươi phút, mưa không hề nhỏ đi chút nào.
Điện thoại sắp hết pin, tôi do dự không biết có nên chạy về không.
Ngay lúc này, một chiếc ô cán dài màu đen được đưa đến trước mặt tôi.
Tôi ngẩng đầu.
Trần Tự đứng trong mưa, toàn thân ướt sũng.
Tóc dán vào trán, nước theo mặt chảy xuống.