Chín ngày sau khi cha là ông Đỗ Minh Đức qu/a đ/ời, Đỗ Nhã Văn nhắn ngày tổ chức tang lễ trên biển vào nhóm chat gia đình. Cô chỉ ghi thời gian, địa điểm tập trung, yêu cầu trang phục đơn giản, cùng một câu di nguyện cha để lại: "Không lập linh đường lâu ngày, không tổ chức tiệc cỗ, tro cốt về với biển". Tin nhắn gửi đi chưa đầy ba phút, bác cả Đỗ Minh Xuân nhắn lại một dấu chấm hỏi, tiếp đó chú hai hỏi: "Thế còn tiệc cỗ thì sao?"
Nhã Văn ngồi trước bàn ăn tại nhà mẹ ở khu Trung Chính, Cơ Long, ngoài cửa sổ là những cơn gió đông bắc ẩm ướt. Cô vừa xin nghỉ phép tang tại công ty, trên bàn vẫn còn chiếc laptop chứa các vụ khiếu nại bảo hiểm hàng hải. Ngày thường, cô chuyên đối chiếu thời gian t/ai n/ạn, hóa đơn sửa chữa và phạm vi trách nhiệm cho các chủ tàu, nhưng đến việc hậu sự của cha, cô vốn chỉ muốn làm theo đúng ý nguyện ông để lại, không muốn biến gia đình mình thành một hồ sơ chờ kết án.
Mẹ cô, bà Chu Tú Cầm, ngồi bên ghế sofa gấp hoa sen giấy, nghe thấy điện thoại rung lên từng hồi, vai bà lại co rúm lại. Nhã Văn hỏi: "Mẹ, chẳng phải cha luôn nói không muốn tổ chức tiệc cỗ sao?"
Bà Tú Cầm không ngẩng đầu, chỉ nói: "Bác và chú con nghĩ rằng, họ hàng dù sao cũng nên ăn một bữa."
Chập tối, bác cả trực tiếp gọi điện đến. Vừa bắt máy, bác đã nói rằng đã đặt ba mươi bàn tại một nhà hàng tiệc trong thành phố, mỗi bàn mười hai nghìn tệ, chưa kể phí trà nước và dịch vụ. "Nhà con chỉ có mỗi mình con là con gái, làm thế mặt mũi để đâu cho đành. Tiền cọc bác ứng trước, tiền còn lại con lo liệu."
Nhã Văn ngỡ mình nghe nhầm: "Ai đồng ý đặt tiệc ạ?"
"Ai cũng biết là phải làm, còn cần hỏi sao? Mẹ con cũng đâu có phản đối."
Bà Tú Cầm đột nhiên gấp méo bông hoa sen giấy, nhưng vẫn không nói lời nào.
Nhã Văn không cãi vã qua điện thoại. Cô chỉ hỏi tên nhà hàng, người đặt tiệc, ngày tháng và số tiền đặt cọc. Bác cả mất kiên nhẫn: "Đang là việc của cha con, sao con cứ tính toán những thứ này?"
"Vì là việc của cha nên con mới cần tính toán cho rõ."
Sau khi cúp máy, Nhã Văn đến ngăn dưới cùng bàn làm việc của cha lấy ra một chiếc bìa kẹp tài liệu trong suốt. Hai năm trước, sau khi phẫu thuật tim, cha đã viết lại từng điều một về hậu sự của mình, còn cho cả mẹ và Nhã Văn xem. Chữ ông không đẹp nhưng rất rõ ràng: Không tổ chức tiệc chia tay quy mô lớn, không nhận tiền phúng điếu, sau khi rải tro cốt xuống biển thì gia đình ăn uống nhẹ nhàng là được. Trong bìa kẹp còn có bản sao phương án dịch vụ tang lễ mà ông đã chọn, cùng tài liệu thu thập được khi ông lần đầu tìm hiểu về tang lễ trên biển.
Cô bày những văn bản đó trước mặt mẹ, không chất vấn, chỉ hỏi: "Mẹ, hôm nay mẹ có muốn cùng con xem lại một lần không?"
Bà Tú Cầm nhìn chằm chằm vào nét chữ của chồng, hốc mắt đỏ hoe nhưng lại nói: "Con cứ lo liệu là được."
Bốn chữ đó khiến lồng ngựk Nhã Văn trĩu nặng. Năm cuối cha nằm viện, từ việc đăng ký khám, phục hồi chức năng, bảo hiểm cho đến xe cộ đưa đón, phần lớn đều do cô lo liệu. Cô cứ ngỡ mình làm được là có hiếu, cho đến lúc này mới nhận ra, cũng chính vì thế mà mọi người đã quen đẩy hết các quyết định vào tay cô.
Cô cầm điện thoại gọi cho nhà hàng. Việc đặt tiệc là có thật, người đặt là bác cả, tiền cọc sáu mươi nghìn, nhưng mục ghi chú lại ghi là "con gái gia chủ thanh toán". Phía nhà hàng nói rằng nếu hủy trước thời hạn thì tiền cọc sẽ xử lý theo hợp đồng; nếu thêm bàn hoặc đổi món thì phải do người đặt tiệc x/ác nhận.
Nhã Văn yêu cầu họ gửi hợp đồng và chi tiết đặt tiệc trước, cô không đưa ra bất kỳ lời hứa miệng nào mới.
Đêm khuya, lúc mười một giờ, cô đăng lại một tin nhắn vào nhóm gia đình: "Cha lúc sinh thời đã có ý nguyện bằng văn bản rõ ràng, hậu sự sẽ được cử hành theo đúng ý nguyện đó. Tiệc cỗ ba mươi bàn không phải do tôi đặt, cũng không có sự đồng ý của tôi. Ngày mai tôi sẽ x/ác nhận hợp đồng với nhà hàng rồi xử lý chính thức. Ngày tổ chức tang lễ trên biển vẫn giữ nguyên."
Nhóm chat im lặng tức thì, sau đó bác cả nhắn một câu: "Con làm thế này thì mẹ con còn mặt mũi nào nhìn người khác nữa."
Nhã Văn nhìn mẹ đang ngồi trên sofa. Bà Tú Cầm vẫn cúi đầu như thể không nghe thấy gì.
Lần đầu tiên, cô không thay mẹ trả lời ngay lập tức.
Đêm đó cô không ngủ. Hai giờ sáng, bà Tú Cầm dậy tìm nước uống, thấy con gái vẫn ngồi trước bàn ăn liền hỏi: "Lại có việc công ty hả con?" Nhã Văn lắc đầu. Cô chợt nhớ lần cuối cùng cha còn tỉnh táo, ông từng nắm tay cô dặn đừng biến hậu sự của ông thành một buổi tiệc mà "ai cũng bận rộn tiếp khách, không ai có thời gian nghĩ về cha". Lúc đó cô còn cười ông suy nghĩ quá nhiều, giờ mới hiểu, ông đã sớm nhìn thấu những thói quen của gia đình.
Cô hỏi mẹ: "Khi cha nói về tang lễ trên biển, mẹ thật sự đồng ý chứ?"
Bà Tú Cầm ôm cốc nước, hồi lâu sau mới nói: "Mẹ không nỡ, nhưng ông ấy muốn về với biển. Cả đời ông ấy làm việc bên cảng, nhìn biển suốt cả đời. Mẹ không muốn đến cuối cùng còn trái ý ông ấy."
Đây là lần đầu tiên tối đó bà Tú Cầm nói ra lựa chọn của chính mình. Nhã Văn ghi nhớ câu nói đó trong lòng nhưng không thay bà đăng lên nhóm. Cô biết, một ngày nào đó mẹ phải tự mình nói ra.
Trước khi tắt thông báo nhóm, cô chép lại ngày tổ chức tang lễ trên biển vào cuốn lịch giấy. Đó là cuốn lịch cũ cha từng dùng để ghi lịch trình sửa tàu, lần đầu tiên cô viết lên cùng một trang ấy lịch trình cho một cuộc chia ly.