Ngày x/ác nhận thủ tục tang lễ trên biển, Cơ Long đổ cơn mưa phùn. Nhã Văn đưa mẹ đến văn phòng công ty dịch vụ tang lễ để x/ác nhận các hạng mục: nghiền tro cốt, bình đựng tro cốt thân thiện với môi trường, số lượng người lên tàu và phương án dự phòng khi thời tiết x/ấu. Người phụ trách trình bày quy trình rất chậm rãi, bà Tú Cầm gật đầu suốt buổi, cho đến khi đối phương nhắc đến việc "theo lựa chọn trước đó của gia đình, sẽ không tổ chức tiệc cỗ quy mô lớn", bà bỗng nói: "Việc này là do con gái tôi quyết định."

Nhã Văn nghiêng đầu, không phản bác ngay lập tức.

Người phụ trách hơi khựng lại, đặt bút xuống: "Chúng ta có thể x/ác nhận lại. Quan trọng nhất là ý nguyện hiện tại của gia đình phải thống nhất với ý nguyện lúc sinh thời của người đã khuất."

Sau khi về nhà, Nhã Văn quét bản sao tờ giấy viết tay của cha để lưu trữ, bản gốc vẫn đặt lại vào bìa kẹp tài liệu. Trên đó chỉ vỏn vẹn năm dòng sắp xếp, không có thuật ngữ pháp lý, cũng không có định dạng người làm chứng, nhưng dòng cuối cùng viết: "Nhã Văn, đừng vì cha mà mời khách đến kiệt sức, mẹ con ăn uống được là tốt rồi."

Cô nhìn rất lâu, chợt nhớ ra lúc sinh thời cha thực ra biết rõ gia đình vận hành thế nào. Mỗi dịp Thanh minh hay hiếu hỉ, mẹ luôn m/ua sắm thực phẩm từ trước vài ngày, cha phụ trách tiếp khách, còn việc rửa bát và dọn dẹp phần lớn đều đổ lên vai hai mẹ con. Cha nói không tổ chức tiệc, có lẽ không chỉ là để tiết kiệm, mà còn vì ông biết sự "thể diện" này do ai gánh vác.

Tối đến, bác cả và chú hai trực tiếp đến nhà. Họ mang theo một túi trái cây, vừa vào cửa đã hỏi ngay: "Nhà hàng nói sao?"

Nhã Văn đặt bản sao hợp đồng đặt tiệc lên bàn, chỉ để lộ những trang cần thiết. "Thời hạn hủy vẫn còn. Sáu mươi nghìn tiền cọc là bác cả trả, nếu x/ác nhận hủy, cháu sẵn sàng thảo luận với bác về việc chia sẻ chi phí hợp lý, nhưng các bàn tiệc phát sinh và hạng mục bổ sung sau này cháu sẽ không chịu trách nhiệm."

Bác cả vỗ bàn: "Giờ là đang tính toán chi li với nhau đấy à?"

"Chính vì trước nay chưa bao giờ rạ/ch ròi, mới có chuyện người này tự ý đặt ba mươi bàn cho người khác."

Chú hai quay sang bà Tú Cầm: "Chị dâu, chị nói một câu xem nào. Chị thực sự muốn để anh Minh Đức ra đi trong sự đạm bạc thế này sao?"

Đôi môi bà Tú Cầm mấp máy, cuối cùng nhìn sang Nhã Văn: "Nó hiểu biết hơn, cứ để nó lo liệu."

Khoảnh khắc đó, Nhã Văn như bị mẹ đẩy về phía trước. Cô vốn tưởng hôm qua đã nói đủ rõ ràng, nhưng lại nhận ra chỉ cần mẹ thấy sợ, bà sẽ biến cô thành tấm khiên đỡ đạn.

Bác cả lập tức chộp lấy câu nói đó: "Đấy, cô thấy chưa, là do Nhã Văn không chịu."

Nhã Văn không hề cao giọng. Cô lật tờ giấy viết tay của cha đến dòng cuối cùng, đẩy về phía hai người bác. "Đây là ý nguyện cha để lại. Các bác có thể không đồng ý, nhưng đừng nói là cháu tự ý quyết định thay ông."

Bác cả liếc nhìn rồi cười khẩy: "Lúc ốm đ/au ông ấy nghĩ gì viết nấy thôi, gia đình là phải có quy tắc của gia đình."

"Quy tắc đó là do ai định ra vậy ạ?"

Căn phòng im lặng trong một giây.

Bà Tú Cầm đột nhiên đứng dậy đi vào bếp, vòi nước được mở rất to. Nhã Văn biết mẹ lại đang trốn tránh. Cô không đuổi theo, mà đặt một bảng phân công công việc gia đình lên bàn: Việc liên lạc tang lễ trên biển do cô phụ trách; mẹ quyết định hình thức tế lễ; các bác nếu muốn thông báo cho người thân của mình thì tự chịu trách nhiệm; mọi chi phí ăn uống phải có sự đồng ý và thống nhất số tiền trước.

Chú hai xem xong cười khẩy: "Lo hậu sự mà còn làm bảng biểu, cháu thực sự coi gia đình là công ty đấy à."

Nhã Văn không phủ nhận. "Cháu thà có bảng biểu, còn hơn để cuối cùng ai cũng nói 'tôi cứ tưởng'."

Sau khi hai người bác rời đi, bà Tú Cầm mới từ trong bếp bước ra. Bà nhìn vào những tài liệu trên bàn, hạ giọng nói: "Cha con ngày trước gh/ét nhất là nhà cửa ồn ào."

Nhã Văn thu dọn giấy tờ. "Cho nên cháu không hề làm ầm ĩ. Cháu chỉ là không làm theo ý họ."

Bà Tú Cầm đỏ hoe mắt: "Nhưng con làm thế này, họ sẽ trách mẹ."

Nhã Văn cuối cùng cũng đỏ mắt. "Mẹ ơi, họ trách mẹ, và việc con gánh vác thay mẹ là hai chuyện hoàn toàn khác nhau."

Cô cất năm dòng chữ của cha trở lại bìa kẹp, lần đầu tiên không dùng nó làm vũ khí, mà dùng nó làm một giới hạn. Những gì cha để lại là lựa chọn của chính ông; mẹ cũng phải bắt đầu để lại lựa chọn của riêng bà.

Đêm đó, Nhã Văn lại lật đến một trang ghi chép trong nhật ký cũ của cha. Một năm nọ khi nhà các bác có hỉ sự, cha viết bên cạnh: "Tú Cầm bận ba ngày, về nhà đ/au lưng." Nét chữ rất tùy ý, nhưng khiến cô khựng lại. Cha không phải không nhìn thấy sự vất vả của mẹ, chỉ là nhìn thấy không có nghĩa là lúc nào cũng ngăn cản. Cô bỗng nhiên không muốn thần thánh hóa ông thành một người luôn sắp xếp mọi thứ đúng đắn.

Cô nói với mẹ: "Cha cũng không phải lúc nào cũng đứng ra bảo vệ chúng ta. Ngày xưa ông ấy cũng thường nói 'ai cũng làm thế cả'."

Bà Tú Cầm cười khổ: "Cha con cũng sợ anh trai ông ấy mà."

Hai người lần đầu tiên sau khi cha qu/a đ/ời, cho phép mình nói một câu về khuyết điểm của ông. Không phải phản bội, cũng chẳng phải bất kính. Điều đó ngược lại khiến năm dòng chữ kia giống như lựa chọn thực sự của ông hơn, thay vì là thánh chỉ bị người thân đem ra để áp đặt lẫn nhau.

Nhã Văn quyết định, sau này nếu các bác có hỏi, cô sẽ chỉ trích dẫn những nội dung liên quan trực tiếp đến hậu sự, không đem những ghi chép cá nhân khác của cha ra để chứng minh ai đúng ai sai.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Ngày cử hành tang lễ trên biển của cha được ấn định, cô hủy bỏ toàn bộ ba mươi bàn tiệc mà gia tộc đã đặt trước.

Chương 11
Tại quận Trung Chính, Cơ Long, Đỗ Nhã Văn, một chuyên viên bồi thường bảo hiểm hàng hải 45 tuổi, sau khi cha qua đời đã dự định tổ chức một buổi lễ thủy táng giản dị theo di nguyện bằng văn bản của ông. Thế nhưng, cô phát hiện các chú bác trong họ đã tự ý đặt ba mươi bàn tiệc chia buồn nhân danh gia đình mà không có sự đồng ý của cô và mẹ, lại còn yêu cầu cô chi trả số tiền còn lại và đứng ra tiếp khách. Thay vì chọn cách đối đầu công khai, Nhã Văn từng bước làm rõ trách nhiệm từ hợp đồng đặt tiệc, kế hoạch thủy táng cho đến việc phân công công việc trong gia đình. Khi người mẹ thừa nhận từng vì áp lực mà miệng đồng ý đặt tiệc, thậm chí còn muốn đẩy trách nhiệm hủy bỏ cho con gái, Nhã Văn buộc phải vạch ra ranh giới mới giữa việc thấu hiểu nỗi sợ của mẹ và việc từ chối nói thay bà. Cuộc họp gia đình trước ngày thủy táng trở thành bước ngoặt thực sự của hai mẹ con: người mẹ đích thân rút lại sự đồng ý, Nhã Văn chấp nhận mất khoản tiền cọc không thể hoàn lại, từ chối thanh toán số bàn tiệc phát sinh, đồng thời đổi buổi tiệc mặn thành một buổi trà đàm nhỏ. Cuối cùng, người cha đã được trở về với biển cả như di nguyện, còn hai mẹ con, sau khi cắt đứt liên lạc với một số người thân, đã tái thiết lập cách thức thờ cúng, chi tiêu, nơi ở và sự chăm sóc lẫn nhau.
0