Phương án nhà hàng đưa ra rất rõ ràng: nếu hủy trước ngày quy định, sáu mươi nghìn tệ tiền cọc sẽ không được hoàn lại, nhưng sẽ không thu thêm khoản tiền cuối của bàn tiệc; năm bàn tiệc chưa x/ác nhận và tấm bảng đón khách đều có thể hủy bỏ. Tuy nhiên, bác cả lại nói qua điện thoại rằng bác đã trót hứa với vài người họ hàng là sẽ thêm món, yêu cầu Nhã Văn tính cả những "tổn thất" đó vào.

Nhã Văn chỉ đáp: "Không có hợp đồng, không có thanh toán, cũng không có sự đồng ý của cháu cho việc thêm món, cháu sẽ không trả."

"Thể diện của cha cháu chỉ đáng giá sáu mươi nghìn thôi sao?"

"Cha cháu lúc sinh thời vốn không cần thứ thể diện này."

Đầu dây bên kia im lặng một lát, bác cả nói tiếp: "Vậy ít nhất cháu phải trả lại toàn bộ tiền cọc cho bác."

Nhã Văn nhìn vào tài khoản ngân hàng. Trong thời gian cha nằm viện giai đoạn cuối, cô đã chi trả không ít chi phí đi lại và chăm sóc cho gia đình, mẹ cô hiện có tiền tiết kiệm của cha để lại, nhưng cô không muốn biến mỗi khoản chi thành một cuộc tranh cãi vào lúc này. Cô nói rằng có thể trích từ chi phí chung cho hậu sự của cha để bù đắp tổn thất hủy tiệc, nhưng với điều kiện bác cả phải cung cấp hóa đơn quẹt thẻ và giấy x/ác nhận hủy chính thức từ nhà hàng; cô sẽ không chuyển tiền trực tiếp vào bất kỳ tài khoản cá nhân nào để rồi lại bị người khác nói rằng còn có chi phí phát sinh khác.

Bác cả m/ắng cô là "đồ vô ơn", rồi cúp máy.

Tối đó, bà Tú Cầm gọi cho bác cả như đã hẹn. Nhã Văn ngồi bên cạnh, lòng bàn tay còn ướt đẫm mồ hôi hơn cả khi cô đi đàm phán bồi thường. Sau khi kết nối, bà Tú Cầm xin lỗi trước, giọng rất nhỏ: "Minh Xuân, hôm đó ở b/ệnh viện mẹ nói đồng ý là do mẹ hồ đồ. Sau này mẹ đọc lại những gì Minh Đức viết, ông ấy thực sự không muốn tổ chức."

Bác cả lập tức nói: "Có phải Nhã Văn ép chị không?"

Bà Tú Cầm nhìn con gái. Nhã Văn không gật đầu, cũng không nhắc bài cho mẹ.

Bà Tú Cầm hít một hơi. "Không phải. Là tự bản thân mẹ bây giờ không muốn tổ chức nữa."

Câu nói ấy r/un r/ẩy nhưng trọn vẹn.

Bác cả lớn tiếng, nói rằng đã thông báo cho họ hàng rồi, nói bà làm chị dâu mà không được nuốt lời, lại nói em trai đã mất, những người còn lại vẫn phải nhìn mặt nhau. Mấy lần bà Tú Cầm định đưa điện thoại cho Nhã Văn nhưng cuối cùng đều nhịn. Bà chỉ lặp lại: "Tiền cọc chúng ta xử lý theo hợp đồng, những thứ khác đừng thêm vào nữa."

Sau khi cúp máy, bà Tú Cầm như kiệt sức, ngồi phịch xuống ghế sofa mà khóc. "Cả đời này mẹ chưa bao giờ nói chuyện với ông ấy như thế."

Nhã Văn rót nước ấm cho mẹ. "Mẹ nói rất đúng mà."

"Ông ấy sẽ h/ận mẹ."

"Cũng có thể chỉ là rất gi/ận thôi."

Bà Tú Cầm cười khổ: "Khác nhau sao?"

"Khác ạ. H/ận giống như cả đời, còn gi/ận có lẽ chỉ là lúc này thôi."

Mẹ nhìn cô, như thể lần đầu tiên nghe thấy có người thu nhỏ cảm xúc của họ hàng lại thành một khoảng thời gian ngắn, thay vì là nghĩa vụ cả đời.

Hôm sau, Nhã Văn gửi đơn hủy chính thức lại cho nhà hàng, ghi rõ không thêm bàn, và yêu cầu nhà hàng x/ác nhận lại qua email. Cô không công khai hợp đồng trong nhóm gia đình, cũng không chuyển lời nội dung cuộc điện thoại của mẹ. Cô chỉ gửi một thông báo đơn giản: Cha thực hiện tang lễ trên biển theo ý nguyện lúc sinh thời, không tổ chức tiệc chia tay quy mô lớn; tiệc cỗ đã đặt trước nay đã hủy, mong mọi người thông cảm cho sự bất tiện này.

Một vài người anh em họ nhắn tin riêng nói rằng họ hiểu, cũng có người hỏi sau khi rải tro cốt xuống biển có thể cùng ngồi lại không. Nhã Văn chợt nghĩ, điều cha thích nhất không phải là tiệc tùng, mà là ngồi uống trà trò chuyện bên bến cảng. Cô ghi lại một ý tưởng: Sau tang lễ trên biển, có lẽ có thể tìm một nơi khoảng hai mươi người, uống trà, ăn chút bánh ngọt đơn giản, không xếp bàn chủ tiệc, không nhận tiền phúng.

Buổi tối cô nói ý tưởng này với mẹ. Bà Tú Cầm không đồng ý ngay, chỉ hỏi: "Ít người quá liệu có khó coi không?"

Nhã Văn nói: "Nếu là người chúng ta thực sự muốn gặp, thì sẽ không khó coi ạ."

Bà Tú Cầm im lặng hồi lâu, cuối cùng nói: "Vậy mẹ muốn mời hai người đồng nghiệp cũ của cha con ngày trước làm nghề sửa tàu."

Đây là lần đầu tiên kể từ khi cha qu/a đ/ời, mẹ chủ động nói "Mẹ muốn".

Nhã Văn không viết tên giúp mẹ. Cô đưa bút cho mẹ, để mẹ tự viết.

Chiều hôm x/ác nhận hủy tiệc thành công, bác cả chụp ảnh hóa đơn quẹt thẻ gửi tới, trong ảnh còn cố tình chụp cả ngón tay và mặt bàn, như muốn nhắc nhở Nhã Văn rằng số tiền đó là bác bỏ ra trước. Nhã Văn không để tâm đến giọng điệu, chỉ đối chiếu số tiền và ngày tháng, rồi yêu cầu nhà hàng xuất giấy x/ác nhận hủy. Sáu mươi nghìn tệ thực sự trở thành tổn thất, cô ghi chép rõ ràng trên bảng chi phí gia đình, không tính thêm, cũng không bớt.

Mẹ nhìn cột chi phí đó, nói nhỏ: "Giá mà hôm đó mẹ không đồng ý, thì đã không mất sáu mươi nghìn này."

Nhã Văn nói: "Tổn thất là thật, nhưng không phải để ph/ạt mẹ. Lúc đó ai cũng rối lo/ạn, giờ xử lý xong hậu quả là được rồi."

Nói xong cô mới nhận ra, câu này cũng là để tự nói với chính mình. Trước đây, cứ mỗi lần phạm lỗi, cô lại quen bù đắp gấp đôi, cứ như thể chỉ có làm nhiều hơn mới xóa bỏ được lỗi lầm. Lần này, cô lần đầu tiên cho phép một sai lầm chỉ phải trả cái giá vốn có của nó, không còn phải bồi thêm ba mươi bàn tiệc, cả ngày tiếp khách, và những món n/ợ tình cảm trong tương lai.

Khi cất giấy x/ác nhận hủy vào bìa kẹp, cô không viết chữ "Thành công". Đây không phải là thắng thua, chỉ là một việc cuối cùng cũng ngừng lan rộng. Cô cũng tự nhắc nhở bản thân, điều cần xử lý tiếp theo là lời từ biệt, chứ không phải là thuyết phục từng người bác, người chú.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Ngày cử hành tang lễ trên biển của cha được ấn định, cô hủy bỏ toàn bộ ba mươi bàn tiệc mà gia tộc đã đặt trước.

Chương 11
Tại quận Trung Chính, Cơ Long, Đỗ Nhã Văn, một chuyên viên bồi thường bảo hiểm hàng hải 45 tuổi, sau khi cha qua đời đã dự định tổ chức một buổi lễ thủy táng giản dị theo di nguyện bằng văn bản của ông. Thế nhưng, cô phát hiện các chú bác trong họ đã tự ý đặt ba mươi bàn tiệc chia buồn nhân danh gia đình mà không có sự đồng ý của cô và mẹ, lại còn yêu cầu cô chi trả số tiền còn lại và đứng ra tiếp khách. Thay vì chọn cách đối đầu công khai, Nhã Văn từng bước làm rõ trách nhiệm từ hợp đồng đặt tiệc, kế hoạch thủy táng cho đến việc phân công công việc trong gia đình. Khi người mẹ thừa nhận từng vì áp lực mà miệng đồng ý đặt tiệc, thậm chí còn muốn đẩy trách nhiệm hủy bỏ cho con gái, Nhã Văn buộc phải vạch ra ranh giới mới giữa việc thấu hiểu nỗi sợ của mẹ và việc từ chối nói thay bà. Cuộc họp gia đình trước ngày thủy táng trở thành bước ngoặt thực sự của hai mẹ con: người mẹ đích thân rút lại sự đồng ý, Nhã Văn chấp nhận mất khoản tiền cọc không thể hoàn lại, từ chối thanh toán số bàn tiệc phát sinh, đồng thời đổi buổi tiệc mặn thành một buổi trà đàm nhỏ. Cuối cùng, người cha đã được trở về với biển cả như di nguyện, còn hai mẹ con, sau khi cắt đứt liên lạc với một số người thân, đã tái thiết lập cách thức thờ cúng, chi tiêu, nơi ở và sự chăm sóc lẫn nhau.
0