Ba ngày sau khi rải tro cốt xuống biển, Nhã Văn quay lại công ty làm việc. Trên bàn chất đống vài vụ án chờ xử lý, đồng nghiệp chỉ hỏi thăm đơn giản, không ép cô phải kể chuyện tang lễ. Cô sắp xếp lại các giấy tờ chi phí hậu sự của cha, sáu mươi nghìn tệ tổn thất hủy tiệc được chi trả từ khoản tiền dự phòng hậu sự cha để lại, còn chi phí trà chiều và dịch vụ tang lễ được thanh toán dứt điểm theo ngân sách ban đầu. Cô in một bản chi tiết cho mẹ, còn mình giữ bản mềm, không làm thêm tập giải thích nào nữa.
Bác cả không rời nhóm chat nhưng cũng không bao giờ lên tiếng nữa. Chú hai gửi một dòng tin về việc sắp xếp cúng Thanh minh: "Các người tự xử lý đi." Giọng điệu mang theo sự lạnh lùng, Nhã Văn đọc xong vẫn cảm thấy khó chịu. Giữ được ranh giới không có nghĩa là mất đi mối qu/an h/ệ mà không đ/au lòng.
Tối về nhà, cô phát hiện mẹ đã chia quần áo của cha thành ba đống: quyên góp, giữ làm kỷ niệm và chờ xử lý. Trước đây, những việc thế này chắc chắn sẽ đợi cô về quyết định.
"Sao mẹ lại làm trước rồi ạ?" Nhã Văn hỏi.
Tú Cầm ngẩng đầu: "Chồng của mẹ, mẹ cũng có thể tự mình sắp xếp."
Nhã Văn mỉm cười, nhưng hốc mắt lại nóng bừng.
Hai mẹ con bắt đầu bàn chuyện sắp xếp nơi ở. Khi cha còn sống, Nhã Văn thường ở nhà mẹ bốn đêm một tuần để tiện chăm sóc. Giờ đây, Tú Cầm muốn tự ở một mình ba tháng rồi mới quyết định có chuyển đến gần con gái hay không. Nhã Văn không nói ngay "Con có thể đến mỗi ngày", mà chỉ hỏi bà cần hỗ trợ cố định những việc gì.
Cuối cùng hai người thống nhất, Nhã Văn về ăn cơm vào thứ Ba và thứ Bảy hàng tuần; Tú Cầm tự lo điện nước và m/ua sắm sinh hoạt, nếu có giấy tờ y tế hoặc giấy tờ quan trọng thì cùng thảo luận. Còn Di An thì hai tuần về Cơ Long thăm bà một lần, nhưng không phải là "trực ban" cố định.
"Như thế này có quá xa cách không?" Tú Cầm hỏi.
Nhã Văn nói: "Viết rõ ràng không phải là xa cách, mà là để ai cũng biết mình có thể làm gì và không cần làm gì."
Tú Cầm suy nghĩ một chút rồi gật đầu.
Cuối tuần đó, hai người cùng đi chợ m/ua thức ăn. Gặp một người họ hàng, đối phương nhìn thấy Nhã Văn liền nói: "Bác cả cháu vẫn còn gi/ận đấy, có thời gian thì đến xin lỗi bác ấy đi, dù sao cũng là người một nhà."
Nhã Văn không giải thích toàn bộ sự việc, chỉ nói: "Nếu bác ấy muốn nói chuyện, cháu sẽ lắng nghe. Nhưng việc hủy tiệc, cháu sẽ không xin lỗi."
Người họ hàng tỏ vẻ ngượng ngùng, quay sang nói với Tú Cầm: "Chị dâu, con gái chị chủ kiến mạnh quá."
Nhã Văn định bỏ đi, nhưng nghe thấy mẹ trả lời: "Lần này thì tôi cũng có chủ kiến."
Về đến nhà, hai người xách túi thức ăn đứng ở cầu thang cười với nhau rất lâu.
Cười xong, Tú Cầm bỗng nói: "Có khi nào trước đây cha con cũng đẩy rất nhiều việc cho con không?"
Nhã Văn suy nghĩ một chút: "Có ạ. Cha thương con, nhưng đúng là có."
"Mẹ cũng vậy."
Nhã Văn không nói "không sao đâu". Cô nói: "Sau này ít đi là được."
Tú Cầm gật đầu, ánh mắt vừa có chút hổ thẹn, vừa có sự thay đổi.
Nỗi đ/au không vì thế mà nhẹ bớt, chỉ là bắt đầu mang những hình hài khác nhau. Sau khi cha mất, họ cuối cùng cũng không thể dùng câu "Ông ấy sẽ nghĩ sao" để tìm câu trả lời cho mọi quyết định nữa. Những người ở lại phải học cách sống với chính cái tên của mình.
Vài tuần sau, Tú Cầm chủ động nhắc đến ngày Thanh minh đầu tiên không có cha. Trước đây nhà họ Đỗ quen có hơn chục người họ hàng đến cúng bái, sau đó bà chuẩn bị bữa trưa. Lần này, bà tự đăng tin vào nhóm gia đình: "Sáng Thanh minh 10 giờ cúng đơn giản, nhà không chuẩn bị cơm cỗ. Ai đến thì tự sắp xếp bữa trưa nhé."
Khi gửi tin nhắn đi tay bà run lên, nhưng bà không xóa. Bác cả không trả lời, chú hai chỉ ấn một biểu tượng cảm xúc. Đến ngày Thanh minh, thực tế có chín người đến. Tú Cầm chuẩn bị trái cây, trà và bánh đậu xanh Minh Đức thích, không còn bày biện đầy một bàn lễ vật. Chú hai thắp hương xong nói: "Anh cả hồi xưa thích nhất là náo nhiệt."
Tú Cầm trả lời: "Tôi biết. Nhưng cuối đời ông ấy muốn đơn giản, bây giờ tôi cũng muốn đơn giản."
Nhã Văn đứng bên cạnh không nói thêm câu nào. Cô chợt nhận ra mẹ đã có thể đặt "ý nguyện của cha" và "ý nguyện của chính mình" cạnh nhau để nói ra. Điều đó còn hữu ích hơn bất kỳ bảng phân công gia đình nào.
Sau khi chú hai rời đi, Tú Cầm thở phào một hơi dài, quay sang hỏi con gái: "Trưa nay ra ngoài ăn mì không? Hôm nay mẹ không nấu."
Nhã Văn cười nói: "Vâng."
Buổi chiều, hai mẹ con đi dạo một đoạn gần đảo Hòa Bình. Tú Cầm đi mỏi chân thì ngồi xuống ghế dài, bỗng nói bà tạm thời không muốn chuyển nhà, muốn thử sống một mình ba tháng. Nhã Văn suýt bật thốt "Không được", cuối cùng đổi lại hỏi: "Mẹ thấy lúc nào cần con đến?"
Cuối cùng họ thống nhất cùng ăn cơm vào thứ Ba và thứ Bảy, thời gian còn lại tùy ý sắp xếp. Nếu Tú Cầm có lịch khám b/ệnh hoặc giấy tờ quan trọng thì báo trước; Di An đến thăm bà cũng không tính là trực ban cố định. Nhã Văn lần đầu tiên chuyển việc "chăm sóc" từ trạng thái trực chiến 24/7 thành những thỏa thuận mà cả hai bên đều có thể nói rõ ràng.
Sự sắp xếp này khiến cả hai đều trút được gánh nặng trong lòng.