Nửa năm sau khi cha qu/a đ/ời, Tú Cầm vẫn sống trong căn nhà cũ. Bà không chuyển đến ở cùng con gái, cũng không trở thành người "chắc chắn không sống nổi một mình" như lời tiên đoán của họ hàng. Bà đăng ký lớp học sử dụng điện thoại thông minh ở trung tâm cộng đồng, thứ Tư hàng tuần cùng hàng xóm đi chợ, thậm chí còn tự học cách đóng tiền nước qua mạng. Gặp điều gì không hiểu, bà sẽ hỏi Nhã Văn, nhưng không còn ném điện thoại sang rồi nói một câu "con làm cho mẹ" nữa.

Nhã Văn cũng khôi phục nhịp độ công việc như cũ. Cô thỉnh thoảng tăng ca đến muộn, khi đi ngang qua cảng biển vẫn bất chợt nhớ đến cha. Có lần xử lý một vụ bồi thường hư hỏng máy móc tàu cá, nhìn thấy tấm ảnh chụp chiếc cờ lê dính dầu mỡ, cô đã bật khóc mười phút trong nhà vệ sinh văn phòng. Nỗi đ/au không có ngày kết án, cô cuối cùng cũng không còn ép mình phải hồi phục đúng quy trình nữa.

Bác cả ít qua lại với hai mẹ con hơn hẳn. Thùng dụng cụ của cha cuối cùng do mẹ tự mình sắp xếp, bác cả đến lấy chiếc cờ lê lực m/ua chung rồi để lại mảnh giấy ký nhận. Khi gặp nhau, hai người chỉ nói vài câu khách sáo, không đả động gì đến chuyện tiệc cỗ. Nhã Văn từng cảm thấy tiếc nuối, nhưng sau đó cũng chấp nhận: Không phải mối qu/an h/ệ nào cũng cần khôi phục sự thân thiết khi câu chuyện kết thúc.

Chú hai lại chủ động ngồi cùng bàn với Tú Cầm trong một đám cưới gia đình. Chú vẫn nói "bữa tiệc năm đó thực ra có thể tổ chức", Tú Cầm chỉ đáp: "Chuyện qua rồi." Sau đó bà tự đi lấy trà, không còn đẩy chủ đề sang cho con gái nữa.

Sau khi Di An đi thực tập ở tỉnh khác, lần đầu gặp vấn đề về tiền cọc thuê nhà, cô bé tự tra c/ứu hợp đồng, hỏi chủ nhà rồi mới gửi các điều khoản cho Nhã Văn xem. Cô bé nói: "Con không phải muốn mẹ quyết định, con chỉ muốn nghe xem mẹ thấy có rủi ro ở đâu."

Nhã Văn đọc tin nhắn rồi mỉm cười. Câu nói này giống như cách ứng xử mới trong gia đình họ: có thể cầu c/ứu, nhưng không giao phó cuộc đời cho người khác.

Một tuần trước ngày giỗ cha, Tú Cầm hỏi Nhã Văn có muốn mời họ hàng đến ăn cơm như mọi năm không. Nhã Văn không trả lời "không", mà hỏi ngược lại: "Mẹ có muốn không?"

Tú Cầm suy nghĩ hai ngày, cuối cùng quyết định chỉ mời hai đồng nghiệp cũ của cha và hai người cô đến nhà uống trà. Bà tự đặt vài món điểm tâm, không để Nhã Văn làm thay. Chiều hôm đó, mọi người cùng nhắc về Minh Đức, người cười, người khóc, không ai cần đến ba mươi bàn tiệc mới chứng minh được rằng mình đang nhớ đến ông.

Sau khi khách ra về, Tú Cầm rửa sạch chén trà, ngồi ngoài ban công ngắm biển. Bà bỗng nói: "Sau khi cha con đi, điều mẹ sợ nhất không phải là sống một mình, mà là người khác nghĩ mẹ làm sai."

Nhã Văn ngồi xuống bên cạnh bà: "Còn bây giờ thì sao ạ?"

"Vẫn sợ. Nhưng mẹ biết sợ cũng có thể tự mình quyết định."

Nhã Văn gật đầu.

Họ không vì thế mà trở thành đôi mẹ con không bao giờ cãi vã. Tú Cầm đôi khi vẫn càm ràm con gái về nhà quá ít, Nhã Văn cũng không nhịn được mà quản lý thêm đôi câu. Nhưng mỗi khi có ai đó nói "conmẹ quyết định giúp tôi", người kia sẽ nhắc nhở: "Hãy nói trước xem bản thân mình muốn gì."

Ngoài cửa sổ truyền đến tiếng còi tàu.

Nhã Văn nhớ đến câu nói của cha: "Mẹ con ăn uống được là tốt rồi". Nửa năm trôi qua, mẹ không chỉ ăn uống được, mà còn bắt đầu tự chọn xem mình muốn ăn gì, ăn với ai, ăn ở đâu.

Và cô cuối cùng cũng hiểu ra, hiếu thảo không phải là đáp ứng đầy đủ nhu cầu của tất cả mọi người. Tiễn biệt cũng không phải là hoàn thành một màn trình diễn làm hài lòng người khác.

Có những người vì thế mà rời xa, có những mối qu/an h/ệ vì thế mà đ/âm chồi nảy lộc. Thứ cô đá/nh mất là sự bình yên đổi bằng việc tiếp đãi không giới hạn, nhưng thứ cô giữ lại được là một mái nhà thực sự có thể thở được.

Sau ngày giỗ cha, hai mẹ con lôi tờ bảng phân công gia đình từ trong ngăn kéo ra. Trên giấy vẫn còn những cột mục như tang lễ trên biển, tiệc cỗ, tế lễ, nhiều việc đã hoàn thành từ lâu. Tú Cầm cầm bút viết thêm một dòng cuối cùng: "Sau này mỗi người hãy tự nói mình muốn gì trước."

Nhã Văn đọc xong liền cười bà: "Đây đâu phải là phân công."

"Cái này quan trọng hơn phân công."

Cô không phản bác.

Tuần tiếp theo, Nhã Văn đưa tệp điện tử về khoản chi hậu sự cuối cùng của cha vào thư mục gia đình, không mở thêm bảng theo dõi mới nào nữa. Một đồng nghiệp trẻ ở công ty hỏi cô, người làm bồi thường có phải việc gì cũng phải tìm ra trách nhiệm thuộc về ai không. Nhã Văn suy nghĩ rồi nói: "Trong công việc thì cần phân định rõ ràng, trong cuộc sống cũng vậy. Nhưng phân định rõ không phải để bắt ai đó chịu toàn bộ trách nhiệm, mà là để mỗi người biết rõ phần việc của mình."

Tan làm, cô đến nhà mẹ ăn cơm. Tú Cầm nấu món bún khoai môn bà thích, không nghĩ trước xem chồng quá cố có thích không, cũng không hỏi con gái có chê không. Di An gọi video tham gia, nói sau khi thực tập xong muốn đi du lịch vài ngày rồi mới về nhà. Câu đầu tiên Tú Cầm suýt nói là "con gái một mình không được đâu", nhưng cuối cùng bà dừng lại, đổi thành: "Con đã tính kỹ về an toàn và ngân sách chưa?"

Di An nói rồi.

Tú Cầm gật đầu: "Vậy con quyết định đi."

Nhã Văn cúi đầu húp canh, bỗng thấy sống mũi cay cay. Hóa ra sự thay đổi của một gia đình không cần tiếng vỗ tay, cũng chẳng có ai tuyên bố chiến thắng. Chỉ là đến một ngày nọ, tất cả mọi người đều bắt đầu trả lại quyền lựa chọn cho nhau.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Ngày cử hành tang lễ trên biển của cha được ấn định, cô hủy bỏ toàn bộ ba mươi bàn tiệc mà gia tộc đã đặt trước.

Chương 11
Tại quận Trung Chính, Cơ Long, Đỗ Nhã Văn, một chuyên viên bồi thường bảo hiểm hàng hải 45 tuổi, sau khi cha qua đời đã dự định tổ chức một buổi lễ thủy táng giản dị theo di nguyện bằng văn bản của ông. Thế nhưng, cô phát hiện các chú bác trong họ đã tự ý đặt ba mươi bàn tiệc chia buồn nhân danh gia đình mà không có sự đồng ý của cô và mẹ, lại còn yêu cầu cô chi trả số tiền còn lại và đứng ra tiếp khách. Thay vì chọn cách đối đầu công khai, Nhã Văn từng bước làm rõ trách nhiệm từ hợp đồng đặt tiệc, kế hoạch thủy táng cho đến việc phân công công việc trong gia đình. Khi người mẹ thừa nhận từng vì áp lực mà miệng đồng ý đặt tiệc, thậm chí còn muốn đẩy trách nhiệm hủy bỏ cho con gái, Nhã Văn buộc phải vạch ra ranh giới mới giữa việc thấu hiểu nỗi sợ của mẹ và việc từ chối nói thay bà. Cuộc họp gia đình trước ngày thủy táng trở thành bước ngoặt thực sự của hai mẹ con: người mẹ đích thân rút lại sự đồng ý, Nhã Văn chấp nhận mất khoản tiền cọc không thể hoàn lại, từ chối thanh toán số bàn tiệc phát sinh, đồng thời đổi buổi tiệc mặn thành một buổi trà đàm nhỏ. Cuối cùng, người cha đã được trở về với biển cả như di nguyện, còn hai mẹ con, sau khi cắt đứt liên lạc với một số người thân, đã tái thiết lập cách thức thờ cúng, chi tiêu, nơi ở và sự chăm sóc lẫn nhau.
0