“ chú nhị của mày tham ô bị bắt rồi! Nhà ta phải mau chóng vạch rõ giới hạn với ổng!” Bố tôi đ/ập vỡ chén trà, gầm lên với tôi. Đêm đó, tôi vác trên vai 130 cân bột mì, trèo tường lẻn vào nhà chú nhị. Mười bốn năm sau, chú được khôi phục chức vụ, việc đầu tiên khi về quê đã khiến tôi đứng giữa phố khóc như một gã khờ.
Chương 1: Đưa lương thực giữa đêm khuya
Mùa đông năm 1987 lạnh đến rợn người.
Tôi nhớ rất rõ, đêm mười hai tháng Chạp năm đó, gió rít như d/ao cứa, luồn lách vào tận từng khe xươ/ng. Thị trấn nhỏ miền Bắc của chúng tôi cứ đến mùa đông là m/ù mịt xám xịt, trên phố đến cả con chó hoang cũng chẳng thấy bóng dáng.
Bố tôi ném chiếc ca tráng men xuống đất, nước trà nóng hổi b/ắn tung tóe vào chân tôi. Tôi đ/au đến mức nhăn nhó, nhưng không dám hé răng.
“Mày có nghe thấy không? Chú nhị mày tham ô hối lộ, bị Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật bắt đi rồi! Từ hôm nay, nhà ta c/ắt đ/ứt qu/an h/ệ với ổng!”
Mẹ tôi đứng bên cạnh lau nước mắt: “Dù sao ổng cũng là em ruột của ông mà…”
“Em ruột thì sao? Nó làm ra chuyện này, còn mặt mũi nào làm cán bộ? Tôi đã bảo rồi, cái loại người như nó sớm muộn gì cũng gặp họa!” Bố tôi đỏ mặt tía tai gầm lên: “Sau này ai còn nhắc đến nó, đừng trách tôi trở mặt không nhận người!”
Tôi đứng bên cạnh, chẳng nói một lời.
Chú nhị tên là Vương Đức Hậu. Trong ký ức của tôi, chú là một người cực kỳ nghiêm túc. Dáng người không cao, g/ầy gò, quanh năm mặc chiếc áo khoác kiểu Trung Sơn màu xanh đã giặt đến bạc màu, mái tóc lúc nào cũng chải chuốt gọn gàng. Chú là Phó cục trưởng Cục Lương thực huyện, quản lý việc cung ứng lương thực, thực phẩm cho toàn huyện.
Thời đó, lương thực vẫn còn theo chế độ thu m/ua và phân phối tập trung, nhà nhà đều phải dùng sổ lương thực mới m/ua được gạo mì. Nhà tôi sống chật vật, bố tôi làm công nhân ở nhà máy cơ khí, lương tháng ba mươi sáu đồng năm hào, mẹ tôi ở nhà chăm sóc tôi và em gái, thỉnh thoảng nhận thêm việc dán hộp diêm ở tổ dân phố, mỗi cái hộp chỉ ki/ếm được một phân tiền.
Nhưng chú nhị thì khác, chú là cán bộ, mỗi tháng được cung ứng lương thực loại ngon, lễ tết còn được chia dầu lạc và th!t lợn. Người trong làng ai cũng bảo chú nhị có bản lĩnh, nhưng bố tôi chưa bao giờ nghĩ vậy.
“Nó có bản lĩnh gì? Chẳng qua là biết nịnh hót thôi!” Bố tôi cứ uống say là lại lải nhải, “Hồi đó bố mẹ nuôi nó ăn học, nó hay thật, thi đỗ trung cấp xong là chẳng đoái hoài gì đến gia đình. Nếu không phải tôi ở lại nông thôn làm ruộng nuôi nó ăn học, thì nó có được ngày hôm nay không?”
Lời này tôi nghe từ nhỏ đến lớn. Mối bất hòa giữa bố tôi và chú nhị giống như vết nứt dưới chân tường ngôi nhà cũ, nhìn thì không đáng kể, nhưng cứ đến ngày mưa là nước lại thấm vào trong.
Nhưng tôi biết, chuyện không đơn giản như thế.
Chú nhị đối với tôi thực ra rất tốt. Mỗi dịp Tết đến, chú đều lén nhét vào tay tôi năm đồng tiền mừng tuổi, dặn dò tôi “cố gắng học hành, sau này làm nên trò trống”. Có năm tôi bị sốt cao, b/ệnh viện huyện không có th/uốc, chính chú đã đạp xe bốn mươi dặm đường, m/ua th/uốc penicillin từ công ty dược phẩm ở huyện bên cạnh về cho tôi.
Những chuyện này, bố tôi không biết. Hoặc có thể nói, ông giả vờ như không biết.
Đêm đó, tôi nằm trên giường trằn trọc không ngủ được. Trong đầu toàn là hình ảnh của chú nhị—lúc chú bị người ta áp giải đi, có phải vẫn mặc chiếc áo bông cũ đó không? Chú đã ăn cơm chưa? Vợ con chú phải làm sao đây?
Tôi lặng lẽ bò dậy, mò mẫm đi vào nhà bếp. Trong tủ chạn còn thừa nửa bao bột mì, khoảng hơn ba mươi cân. Đó là số bột nhà tôi chuẩn bị để ăn Tết, mẹ tôi đã chắt chiu dành dụm suốt nửa năm trời.
Tôi do dự một chút, rồi lại mở hũ gạo ra xem. Bên trong còn chưa đầy hai mươi cân gạo.
Không đủ.
Tôi suy nghĩ một lát, quay người bước ra khỏi cửa.
Đêm mùa đông tối đen như mực, tôi co cổ đi trong ngõ nhỏ, gió lạnh lùa vào cổ áo khiến tôi run cầm cập. Hợp tác xã đã đóng cửa từ lâu, nhưng tôi biết ở phố sau có một chợ đen chuyên b/án lương thực giá cao.
Nói là chợ đen, thực ra chỉ là vài người nông dân gan dạ lén lút b/án lương thực nhà trồng được. Giá đắt gấp đôi trạm lương thực, nhưng không cần sổ gạo.
Khi tôi tìm thấy lão Lưu, ông ta đang chuẩn bị dọn hàng. Nghe tôi muốn m/ua một trăm cân bột mì, ông ta gi/ật mình: “Thằng nhóc này đi/ên à? M/ua nhiều thế để làm gì?”
“Ông đừng hỏi, chỉ cần bảo có hay không thôi.”
“Có thì có, nhưng mà…” Ông ta xoa xoa tay, ý tứ đã quá rõ ràng.
Tôi móc từ trong túi ra một xấp tiền nhàu nát, đó là tiền mừng tuổi tôi tích góp suốt ba năm, cộng thêm tiền lẻ ki/ếm được khi đi làm thuê, tổng cộng là tám mươi bảy đồng năm hào.
Lão Lưu đếm xong, lắc đầu: “Không đủ, một trăm cân bột mì phải là một trăm mười đồng.”
“Ông cho cháu thiếu trước được không? Qua Tết cháu nhất định trả.”
“Mày lấy gì mà trả? Nhà mày thế nào tao còn lạ gì nữa?”
Tôi nghiến răng, tháo chiếc đồng hồ điện tử trên cổ tay xuống: “Cái này cầm cho ông, đáng giá năm mươi đồng.”
Chiếc đồng hồ điện tử đó là quà chú nhị tặng tôi năm tôi đỗ cấp ba, tôi vẫn luôn không nỡ đeo. Lão Lưu nhìn nhìn rồi miễn cưỡng gật đầu: “Được thôi, nể tình mày là thằng nhóc thật thà.”
Một trăm cân bột mì chia làm hai túi vải, tôi vác lên vai, bắp chân run lẩy bẩy. Từ phố sau đến nhà chú nhị dài ba dặm, tôi phải nghỉ đến bốn năm lần, vai bị cọ xát đ/au rát.
Đến trước cửa nhà chú nhị, tôi thấy trong nhà vẫn còn sáng đèn. Cửa sổ dán bằng báo cũ, ánh sáng vàng vọt hắt ra mờ nhạt.
Tôi gõ cửa, bên trong vang lên tiếng của thím nhị: “Ai đấy?”