Trong hai ngày mô-tơ quạt thông gió dừng để sửa chữa, khu vực hậu trường của vườn bỗng trở nên tĩnh lặng. Ánh Lam tranh thủ thời gian sắp xếp lại bảng thời gian gửi giữ của mười hai cuốn sổ, cuốn sớm nhất có niên đại lên tới hai mươi sáu năm trước. Đối chiếu với nhật ký cũ của bà Xuân Mai, cuối cùng cô cũng tìm ra bước ngoặt ban đầu của toàn bộ sự việc.

Năm đó, một bậc cao niên ở Diên Bình tên là A Lợi Mạn nhập viện vì viêm phổi, mái nhà ông lại bị dột sau cơn bão. Cuốn sổ ghi chép thực vật của ông bị nước mưa làm ướt sũng, gia đình hoảng lo/ạn mang đến vườn dược liệu, nhờ bà Xuân Mai giúp phơi khô. Bà Xuân Mai đã mất hai tuần thay giấy thấm, điều chỉnh thông gió, cố gắng c/ứu từng trang sổ sắp dính ch/ặt vào nhau. Sau khi xuất viện, ông A Lợi Mạn từng nói với mọi người trong vườn: “Để cuốn này ở chỗ bà Xuân Mai là an toàn nhất.”

Câu nói đó về sau được nhiều người ghi nhớ. Có người chuyển nhà cũng mang sổ tạm gửi ở vườn; có người sợ cháu nội nghịch phá nên giao hẳn cho bà Xuân Mai bảo quản; có người thấy vườn làm tour hướng dẫn tốt nên để bà lật vài trang dạy cho bọn trẻ. Bà Xuân Mai dần dần từ “giúp một người c/ứu một cuốn sổ” trở thành “để sổ ở chỗ bà ấy là được” mà mọi người trong vùng đều biết.

Ánh Lam tìm được Ba Nại, cháu gái của ông A Lợi Mạn, hẹn cô đến vườn để x/ác nhận. Khi thấy cuốn sổ được phục chế tỉ mỉ, câu đầu tiên Ba Nại nói là: “Cuốn này thật sự phải nhờ dì Xuân Mai.” Cô vuốt ve mép giấy được bồi thêm, ánh mắt tràn đầy biết ơn. Nhưng khi Ánh Lam hỏi liệu có đồng ý cho vườn số hóa và sử dụng trong tour hướng dẫn hay không, Ba Nại lại lắc đầu rất nhanh.

“Cuốn này có vài trang ghi lại những điều không được nói trước các nghi lễ. Lúc đó ông nói để ở đây an toàn, không có nghĩa là để mọi người cùng đọc.”

Bà Xuân Mai ngồi bên cạnh, thần sắc lộ rõ vẻ tổn thương. “Nhưng trước đây ông ấy cũng từng lấy cuốn này dạy cho người trẻ.”

Ba Nại không phủ nhận, chỉ nói: “Dạy ai, dạy trang nào, là do chính ông quyết định khi có mặt tại đó. Sổ để ở chỗ dì không có nghĩa là sau này khi không có ông, ai cũng có thể dạy y như vậy.”

Câu nói này đã giải thích rõ ràng làm thế nào mà “một lòng tốt nhất thời trở thành thói quen thường nhật”. Bà Xuân Mai cúi đầu, im lặng rất lâu.

Ba Nại cuối cùng chọn lấy lại cuốn sổ gốc cho gia đình, nhưng đồng ý để vườn lưu lại ảnh chụp ngoại quan trước và sau khi phục chế làm tài liệu kỹ thuật bảo tồn, không được chụp nội dung bên trong; đồng thời ủy quyền trích dẫn ẩn danh hai trang nhận biết thực vật thông thường, và yêu cầu tất cả các trang liên quan đến nghi lễ không được số hóa.

Sau khi ký tên xong, Ba Nại nắm lấy tay bà Xuân Mai: “Chúng cháu vẫn luôn cảm ơn dì đã c/ứu cuốn sổ này. Chỉ là bây giờ chúng cháu muốn mang nó về nhà.”

Bà Xuân Mai đỏ hoe mắt, gật đầu. Bà không còn nói “để ở vườn an toàn hơn” nữa.

Tiễn Ba Nại xong, Ánh Lam dán dòng thời gian của vụ việc này lên bảng trắng: Nhập viện, ngấm nước, phục chế khẩn cấp, gửi tạm, kéo dài về sau. Bên cạnh đó, cô viết bốn chữ: “Khép lại ngoại lệ”. Cô muốn nhân viên sau khi bàn giao ghi nhớ rằng, bất kỳ ngoại lệ nào cũng phải có điều kiện kết thúc, nếu không thì lòng tốt dù tốt đến đâu cũng sẽ dần biến thành những quy tắc mà người khác chưa từng nói rõ.

Bà Xuân Mai đứng trước bảng trắng nhìn rất lâu, rồi chợt nói: “Lúc đó dì chỉ sợ đồ bị hỏng.”

Ánh Lam biết đây không phải lời biện hộ, mà giống như lần đầu tiên mẹ ngoảnh lại nhìn xem mình đã đi xa đến thế nào. “Con biết,” cô nói, “vấn đề không phải là lần đó.”

“Là vì sau này dì thấy ai cũng giao cho dì, nên dì tưởng mình biết cách làm,” bà Xuân Mai tự tiếp lời.

Ánh Lam không vội an ủi. Cô chỉ đưa tờ đơn ủy quyền mà Ba Nại đã ký cho mẹ kiểm tra lại. Bà Xuân Mai đọc từng chữ một rồi ký vào mục làm chứng. Nét chữ đó rất chậm, nhưng giống như lần đầu tiên bà chính thức thừa nhận, vai trò người bảo quản và vai trò người ủy quyền chưa bao giờ là một vị trí.

Sau khi Ba Nại rời đi, bà Xuân Mai tìm ra những tờ giấy thấm cũ từng dùng để phục chế cuốn của ông A Lợi Mạn, quyết định chỉ giữ lại ảnh chụp quy trình phục chế, không dùng nội dung sổ làm bài giảng nữa. Lần đầu tiên bà chủ động phân biệt giữa “kỹ thuật bảo tồn có thể dạy” và “nội dung được bảo tồn chưa chắc đã có thể dạy”.

Bà Xuân Mai sau đó chủ động viết lên bìa thư mục của ông A Lợi Mạn dòng chữ “Sổ gốc đã hoàn trả cho gia đình”, như thể đang tập chấp nhận việc đồ vật rời khỏi sự bảo quản của mình.

Trước khi đi, Ba Nại còn hỏi vườn rằng nếu sau này gia đình muốn cung cấp lại một phần nội dung, liệu có thể chỉ ủy quyền cho các khóa học cụ thể không. Ánh Lam trả lời ngay là có thể, và viết mục “có thể thiết lập lại thời hạn và đối tượng” vào dự thảo quy chế. Điều này giúp bà Xuân Mai lần đầu tiên thấy rằng, thu hồi không có nghĩa là từ chối mãi mãi; sự tôn trọng thực sự là khiến người khác sau này vẫn có thể thay đổi ý định.

Ánh Lam sau đó sắp xếp quy trình phục chế cuốn của ông A Lợi Mạn thành một trang trường hợp bảo tồn không chứa nội dung, để vườn vẫn có thể kể về lịch sử chăm sóc này nhưng không còn trưng bày các trang bên trong. Bà Xuân Mai nhìn thấy lại thấy nhẹ nhõm, vì bà cuối cùng đã phát hiện ra, thừa nhận ranh giới không có nghĩa là xóa bỏ những việc tốt mà mình từng làm.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Đến khi chú chó chăn cừu Đức bị an tử, tôi mới hiểu được ám hiệu

Chương 16
Con chó chăn cừu Đức tên Hắc Báo đã cắn con trai 5 tuổi của tôi, khiến thằng bé phải khâu 15 mũi trên mặt, vết thương sâu đến tận xương. Vợ tôi gào thét trong cơn cuồng loạn: "Tôi không cần biết lý do là gì, hôm nay nó nhất định phải chết!" Mẹ vợ tôi cũng phụ họa theo: "Tôi tận mắt nhìn thấy con chó đó lao vào cắn, loại chó điên này không thể giữ lại!" Tôi đích thân ký vào tờ đơn đồng ý an tử, ôm Hắc Báo nhìn mũi tiêm đâm vào người nó. Cơ thể nó dần mềm nhũn, đôi mắt vẫn luôn nhìn chằm chằm vào tôi. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Hắc Báo dùng chút sức tàn liếm vào lòng bàn tay tôi – một cái, hai cái, ba cái. Tôi cứ ngỡ nó đang từ biệt. Cho đến khi bác sĩ thú y cúi xuống kiểm tra cổ nó, rồi thì thầm một câu nói. Lúc đó, tôi mới biết mình đã sai lầm đến mức nào.
Tình cảm
0