Trong hai ngày thiết bị dừng hoạt động, Tu Viễn tận dụng thời gian không thể sản xuất để xem xét kỹ lưỡng hơn các mẻ thử nghiệm đáng ngờ trước đó. Anh lấy mẫu lưu từ hai dòng sản phẩm thử nghiệm "Đảo Phong Lão Vị" năm ngoái trong tủ đông, tìm lại hồ sơ nghiên c/ứu, biểu đồ độ mặn và bảng nhập nguyên liệu thời điểm đó, đồng thời nhờ một phòng thí nghiệm quen thuộc hỗ trợ kiểm tra chéo thành phần khuẩn và chất gây dị ứng cơ bản. Dù việc thử nghiệm quy mô nhỏ thủ công không thể thực hiện kiểm nghiệm toàn diện như sản xuất công nghiệp, nhưng kết quả vẫn đủ khiến lòng anh chùng xuống: một trong các mẫu lưu có đặc điểm khuẩn học tương đồng cao với vại của nhà họ Lâm, hơn nữa còn phát hiện phản ứng protein tôm khô ở mức vi lượng.

Khi Tu Viễn cầm báo cáo tìm Lý Tú Liên, cô anh đang đứng ngoài sân sau phơi bã đậu. Sau khi đọc xong báo cáo, ngón tay bà vô thức siết ch/ặt, nhưng vẫn cố giải thích: "Cô chỉ thấy vại của nhà họ Lâm mùi vị rất ổn định, mượn một chút làm thử nghiệm, không ảnh hưởng đến vại của họ đâu. Hơn nữa, cô cũng muốn giữ lại chút hương vị xưa cho xưởng tương."

"Giữ lại hương vị xưa, không có nghĩa là cô có thể dùng chủng nấm của nhà người khác." Tu Viễn gần như nói từng chữ một, "Huống hồ nhà họ Lâm còn lo ngại về chất gây dị ứng, vậy mà cô còn mang men tôm khô đến gần vại của họ. Đây không phải là vấn đề kinh nghiệm, mà là vấn đề quyền hạn."

Sắc mặt Tú Liên tái đi dưới ánh nắng. Bà im lặng rất lâu mới nói: "Cô biết bây giờ nói gì cũng giống như bào chữa. Nhưng A Viễn, cô thực sự không có ý muốn chiếm tiện nghi của ai. Cô chỉ cảm thấy, nếu những hương vị này chỉ nằm trong vại, một ngày nào đó không còn ai nuôi dưỡng nữa thì sẽ đ/ứt đoạn mất."

Tu Viễn bỗng chốc không nói nên lời. Vì anh hiểu. Đối với một xưởng tương lâu đời, "hương vị bị đ/ứt đoạn" gần như là một nỗi sợ sâu sắc hơn cả việc thua lỗ. Những năm cuối đời, cha anh cũng thường lặp lại câu này, sợ rằng nếu tiêu chuẩn hóa quá lâu, tiệm cũ sẽ chỉ còn lại hàng hóa mà không còn ký ức. Lý Tú Liên có lẽ cũng sống trong nỗi sợ hãi đó, dần dần coi những hương vị mà người khác gửi tạm cũng là tài sản có thể giúp xưởng tương kéo dài sự sống.

Thế nhưng, hiểu không đồng nghĩa với việc có thể chấp nhận. Tu Viễn cuối cùng chỉ nói: "Cô sợ hương vị đ/ứt đoạn, con cũng sợ. Nhưng sợ hãi không thể trở thành lý do để lấy đồ của người khác bù vào lỗ hổng của mình."

Chiều hôm đó, anh giải thích đầy đủ kết quả kiểm nghiệm và tình trạng có thể bị ảnh hưởng cho nhà họ Lâm, đồng thời đưa ra các lựa chọn tiếp theo: Nếu muốn nhận lại, có thể lấy mẫu đá/nh giá lại dưới sự chứng kiến của đôi bên; nếu không tin tưởng tình trạng hiện tại, xưởng tương sẽ chịu trách nhiệm tiêu hủy phần bị ảnh hưởng và hoàn trả toàn bộ phí trông giữ. Ở đầu dây bên kia, ông Lâm im lặng hồi lâu rồi chỉ đáp: "Cháu sẵn lòng nói rõ ràng, vẫn hơn là khăng khăng nói không có chuyện gì."

Sau cuộc điện thoại này, Tu Viễn thêm một cột mới vào hệ thống là "Xử lý rủi ro trộn lẫn mẻ". Anh biết rằng nếu tiếp tục điều tra, có thể sẽ còn phát hiện thêm nhiều dấu vết không mấy vẻ vang. Nhưng đồng thời anh cũng cảm nhận được, việc làm rõ từng khoản một ngược lại đang tạo cơ hội cho tiệm cũ thoát khỏi cách làm cũ kỹ dựa vào kinh nghiệm và sự im lặng, để xây dựng nên một bộ khung thực sự đáng tin cậy.

Buổi tối, Tu Viễn tìm thấy một cuốn sổ tay nghiên c/ứu cũ cha để lại trước khi qu/a đ/ời. Trong sổ kẹp một câu được gạch chân: "Hương vị xưa có thể học, không thể tr/ộm." Đó là câu cha anh chép lại trong một buổi hội thảo thực phẩm hơn mười năm trước, lúc đó anh còn cười cha lấy lời người khác làm phương châm sống. Giờ đây nhìn lại, nó giống như một cái t/át nhẹ vào mặt anh. Hóa ra điều anh luôn tưởng mình sợ nhất là hương vị xưa đ/ứt đoạn, nhưng điều cha anh quan tâm lại là cách thức lưu giữ hương vị đó như thế nào.

Anh chép câu đó vào góc bảng biểu mới, nhắc nhở bản thân rằng khi giao tiếp với từng hộ, không chỉ bàn về tiền bạc, rủi ro, mà còn phải bàn về sự lựa chọn. Hôm sau, đối mặt với một hộ ký gửi muốn từ bỏ trực tiếp, anh không khuyên giữ lại, chỉ bình tĩnh giải thích rằng nếu muốn tiêu hủy, xưởng sẽ thực hiện dưới sự chứng kiến của hai người. Đối phương ngược lại vì thế mà thở phào nhẹ nhõm, nói rằng cuối cùng họ cũng cảm thấy mình không phải đang bị yêu cầu phải hợp tác với tiệm cũ, mà được đối xử như chủ nhân thực sự của vại hương vị đó.

Anh cũng liệt kê vại của nhà họ Lâm vào trường hợp rủi ro cao, dán nhãn cam riêng biệt và yêu cầu bất kỳ sự tiếp xúc nào sau này cũng phải có hai người cùng có mặt. Quyết định này tuy có vẻ phiền phức nhưng lại khiến lòng anh vững vàng hơn nhiều, vì ít nhất từ khoảnh khắc này, không ai có thể dùng câu "chỉ mượn một chút" để xóa nhòa ranh giới nữa.

Khi anh thông báo quy định này cho nhân viên, ngay cả A Tuấn cũng gật đầu nói rằng như vậy mọi người ngược lại thấy an tâm hơn, không cần phải đoán xem vại nào có thể chạm vào hay không.

Đó cũng là lời cảnh báo cho chính anh.

Muộn hơn một chút, anh mở thêm một cuộc họp nhỏ với nhân viên, yêu cầu mọi thử nghiệm đều phải có ủy quyền nguồn gốc và hồ sơ tiếp xúc, nếu không thì thà không làm. Đó là lời nói cho nhân viên nghe, cũng là để sửa đổi thói quen dựa dẫm vào kinh nghiệm lâu năm của tiệm cũ.

Anh biết, làm như vậy sẽ chậm, nhưng có thể khiến lần tới khi có ai đó nhắc đến hương vị xưa, không cần phải sợ bị ai đó lén lút lấy đi nữa.

Tu Viễn nhờ A Tuấn bổ sung hồ sơ tiếp xúc của vại đó. A Tuấn thừa nhận đã lấy mẫu theo chỉ thị miệng của Tú Liên. Tu Viễn không trách m/ắng, chỉ bảo anh viết rõ ngày tháng và mục đích. Anh x/ác định, điều cần thay đổi không chỉ là một người nào đó, mà là thói quen coi những lời dặn miệng là đủ.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Đến khi chú chó chăn cừu Đức bị an tử, tôi mới hiểu được ám hiệu

Chương 16
Con chó chăn cừu Đức tên Hắc Báo đã cắn con trai 5 tuổi của tôi, khiến thằng bé phải khâu 15 mũi trên mặt, vết thương sâu đến tận xương. Vợ tôi gào thét trong cơn cuồng loạn: "Tôi không cần biết lý do là gì, hôm nay nó nhất định phải chết!" Mẹ vợ tôi cũng phụ họa theo: "Tôi tận mắt nhìn thấy con chó đó lao vào cắn, loại chó điên này không thể giữ lại!" Tôi đích thân ký vào tờ đơn đồng ý an tử, ôm Hắc Báo nhìn mũi tiêm đâm vào người nó. Cơ thể nó dần mềm nhũn, đôi mắt vẫn luôn nhìn chằm chằm vào tôi. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Hắc Báo dùng chút sức tàn liếm vào lòng bàn tay tôi – một cái, hai cái, ba cái. Tôi cứ ngỡ nó đang từ biệt. Cho đến khi bác sĩ thú y cúi xuống kiểm tra cổ nó, rồi thì thầm một câu nói. Lúc đó, tôi mới biết mình đã sai lầm đến mức nào.
Tình cảm
0