Hồng A Hà đã hơn tám mươi tuổi, sống trong một căn chung cư cũ ở khu Nam, Đài Nam. Khi Nhược Lan và Cảnh Văn mang bản sao sổ đo may đo đến thăm, bà cụ đang ngồi bên cửa sổ vá chiếc váy cho cháu gái. Nhìn thấy hai số đo, ban đầu bà nói mình không nhớ tên, cho đến khi Nhược Lan phóng to ảnh chụp đường kh//âu của mảnh vải bên trong cho bà xem, bà Hà mới từ từ đẩy kính lên.
"Đây là do tôi kh//âu hồi trước," bà chỉ vào cách kết thúc đường chỉ, "Lúc đó tôi sợ mảnh vải cọ vào da nên toàn giấu một nửa vào trong lớp Iót."
Cảnh Văn lập tức hỏi: "Vậy tại sao sau này lại có thêm một cái tên khác?"
Bà Hà nhìn anh một cái, không trả lời ngay, chỉ nói rằng loại áo cưới này thời đó thường do người lớn trong nhà cung cấp vải, sau đó mới sửa theo số đo cô dâu. Nếu có ai đó thay đổi ngày cưới gấp, đổi tên trên hộ khẩu hoặc qu/an h/ệ nhận nuôi thay đổi, thì tên cũng có thể đổi theo, nhưng phần lớn sẽ tháo bỏ nhãn cũ chứ không để lại hai lớp.
"Trừ khi có người cố tình muốn giữ lại cả hai cái tên," Nhược Lan nói.
Cây kim trong tay bà cụ dừng lại. Một lúc lâu sau, bà mới khẽ nói rằng mình thực sự nhớ có một người mẹ trẻ dẫn con gái nuôi đến đo may. Người con gái nuôi lúc đó đã trưởng thành, ngày cưới cận kề, nhưng hộ khẩu và cách xưng hô trong gia tộc vẫn còn một số điểm bất tiện không tiện nói ra ngoài. Người mẹ kia cứ nhấn mạnh "bộ này là của nó, không phải đồ đi mượn". Vì thế, bà Hà đã kh//âu một mảnh vải theo cách xưng hô gia tộc ban đầu, sau đó theo yêu cầu của người mẹ, lại thay bằng tên chính thức của người con gái nuôi ở lớp ngoài.
Nhịp thở của Cảnh Văn rõ ràng lo/ạn đi một nhịp: "Người con gái nuôi đó, là mẹ tôi sao?"
Bà Hà không x/ác nhận giúp anh. Bà chỉ nói mình nhớ cô dâu đó họ Quách, cười lên có lúm đồng tiền bên trái. Mẹ của Cảnh Văn cũng đúng như vậy.
Nhược Lan để ý thấy ngón tay chồng cũ đang bấu ch/ặt lấy đầu gối, nhưng cô không chạm vào anh. Cô biết thứ Cảnh Văn cần nhất lúc này không phải là sự an ủi, mà là một khoảng không gian để tự tiêu hóa.
Trên đường về, Cảnh Văn im lặng suốt. Khi xe đi qua ngã tư An Bình, anh mới đột ngột hỏi: "Nếu đúng là nhận nuôi, tại sao mẹ tôi chưa bao giờ nói?"
"Anh nên hỏi bà ấy."
"Bà ấy sẽ không trả lời đâu."
Nhược Lan nhìn ra ngoài cửa sổ: "Đó cũng có thể là một phần của câu trả lời."
Câu nói này khiến Cảnh Văn im lặng lâu hơn nữa. Mười năm trước khi hai người ly hôn, điều anh không chịu nổi nhất chính là việc Nhược Lan không chịu giải thích sự im lặng của mình thành một loại cảm xúc rõ ràng; còn Nhược Lan lại không chịu nổi việc anh cứ ép cô phải nói trọn vẹn những lời chưa sẵn sàng. Giờ đây, anh mới lần đầu tiên chạm đến một loại im lặng khác—không phải là lạnh lùng, mà có thể là sự bảo vệ, x/ấu hổ, sợ hãi, hoặc đơn giản là người trong cuộc chưa quyết định được phải nói thế nào.
Chiều về tiệm áo cưới, họ lại tìm thấy một tấm ảnh cũ kẹp cùng sổ đo. Cô dâu trong ảnh không chụp chính diện, chỉ chụp được nửa thân và tay áo cưới, bên cạnh là một người phụ nữ trung niên đang cài ghim ngựk cho cô. Nhược Lan phóng to vị trí chiếc ghim, phát hiện người phụ nữ đó đeo một chiếc nhẫn ngọc giống hệt chiếc nhẫn trong ảnh cũ ở nhà mẹ Cảnh Văn.
"Bà ấy có thể chính là người mẹ đã đổi tên cho con gái nuôi," Nhược Lan nói.
Cảnh Văn nhìn bức ảnh, giọng rất thấp: "Vậy không phải là ai mạo danh ai."
"Vẫn chưa thể kết luận."
"Tôi biết." Lần này anh không phản bác.
Nhược Lan ngước nhìn anh, chợt cảm thấy cuộc điều tra này không chỉ đang tháo từng đường chỉ của bộ áo cưới, mà còn đang tháo gỡ cách ứng xử của hai người trong quá khứ. Mỗi lớp đều không thể kéo mạnh, nếu không thứ để lại không phải là câu trả lời, mà là một vết rá/ch mới.
Trước khi đi, bà Hà còn nói thêm, bà nhớ người mẹ đó khi trả tiền đã đặc biệt đưa thêm một khoản phí sửa chữa, nói rằng "cái tên này phải kh//âu cho thật chắc". Nhược Lan liệt kê lời kể này vào danh sách nhân chứng cần x/ác minh, không trực tiếp coi là kết luận, nhưng cô biết nó hoàn toàn khớp với hướng của các bằng chứng vật chất hiện có.
Trước khi tiễn họ ra cửa, bà Hà lại nhớ ra một chuyện: khi trả phí sửa chữa, người mẹ kia đã đặc biệt đưa thêm một khoản công, dặn rằng "cái tên này phải kh//âu cho chắc, nhưng cái bên trong đừng tháo ra". Bà cụ nói xong lại vội bồi thêm rằng mình đã già, chi tiết có thể sai sót. Vì thế, Nhược Lan chỉ liệt kê đoạn này thành lời kể chờ x/ác minh, không coi nó là bằng chứng quyết định. Cảnh Văn nhìn cô xử lý như vậy, không kìm được nói rằng trước đây chắc chắn anh sẽ bị câu nói đó lay động, lập tức tưởng tượng ra cả một câu chuyện mẹ con. Nhược Lan đáp: "Cảm động thì cứ giữ lấy, kết luận để sau."
Lần này anh gật đầu.
Trở lại xe, Cảnh Văn không gọi điện ngay cho mẹ mà sắp xếp lời kể của bà Hà thành một hồ sơ có thể phản bác. Nhược Lan thấy anh giữ lại hai chữ "có thể", biết rằng anh đã bắt đầu học cách chung sống với sự không chắc chắn.
Sự kiềm chế này khiến Nhược Lan lần đầu tiên cảm thấy, thứ Cảnh Văn đang thay đổi không phải là cách nói, mà là thói quen đối diện với những điều chưa biết.