Trong vòng sắp xếp bằng chứng cuối cùng trước buổi họp báo, Nhược Lan dàn trải tất cả các manh mối thành một trục thời gian: cái tên cũ ở mảnh vải lớp trong, cái tên mới được mẹ nuôi yêu cầu kh//âu thêm ở lớp ngoài, việc chỉnh sửa hóa đơn tiệc cưới, cái tên chính thức trên thiệp cưới, ghi chú không công khai khuôn mặt trong phim âm bản, và thời gian di chuyển hộ tịch. Chúng trông có vẻ mâu thuẫn lẫn nhau, nhưng khi đặt vào dòng đời của cùng một người, chúng lại khớp với nhau một cách kỳ lạ.

Bước ngoặt quan trọng thực sự đến từ một tấm biên lai cũ mà Hồng A Hà gửi đến. Bà cụ về nhà lục tung mọi thứ, tìm thấy phiếu lương sửa chữa áo cưới năm xưa, phần ghi chú viết: 'Giữ lại nhãn cũ, không tháo; kh//âu thêm tên mới.' Câu nói này đã giải đáp những thắc mắc cuối cùng của Nhược Lan.

Không có ai đá/nh cắp áo cưới của cô dâu khác, cũng không phải tiệm áo cưới cố tình đổi tên. Chính người mẹ nuôi đã yêu cầu thợ may giữ lại tên cũ, rồi kh//âu cái tên mà con gái nuôi chính thức sử dụng ở bên ngoài. Đó là một cách làm rất riêng tư, thậm chí không phải là văn bản pháp lý, nhưng vào thời điểm đó, nó đã để lại cho một cô gái ý nghĩa kép rằng: "Quá khứ của con không bị xóa bỏ, và cái tên hiện tại của con cũng được thừa nhận."

Cảnh Văn xem xong biên lai, mắt đỏ hoe hồi lâu. Anh nói trước đây mình cứ tưởng mẹ không nhắc đến thân thế là vì x/ấu hổ; giờ mới hiểu, bà có lẽ chỉ không muốn đoạn đời đó bị người khác lấy đi để thêu dệt thành một câu chuyện nào đó.

Nhược Lan nhắc nhở anh: "Ngay cả khi chúng ta biết sự thật về bộ áo cưới này, cũng không có nghĩa là tên của mẹ đẻ có thể bị công khai."

"Anh biết," Cảnh Văn nói, "Lần này anh thực sự biết."

Bà chủ tiệm áo cưới sau khi biết "vụ án mạo danh" thực chất không phải là mạo danh thì tỏ ra thất vọng. Bà vốn kỳ vọng có thể dựa vào một câu chuyện kịch tính để thu hút truyền thông trước khi đóng cửa tiệm, thậm chí đã liên lạc với phóng viên địa phương. Nhược Lan yêu cầu hủy bỏ ngay lập tức để tránh tiết lộ ra ngoài trước khi bà Tú Hà ủy quyền. Bà chủ không nhịn được mà nói: "Nhưng một câu chuyện hay như vậy mà không kể thì chẳng phải đáng tiếc sao?"

Nhược Lan trả lời: "Câu chuyện hay không đồng nghĩa với quyền công khai."

Cảnh Văn cũng bồi thêm một câu: "Hơn nữa với mẹ tôi, đây không phải là câu chuyện, đây là cuộc đời của bà."

Lần này hai người không cần trao đổi ánh mắt, nhưng như thể đang đứng cùng một chiến tuyến.

Chiều hôm đó, bà Tú Hà lại đến tiệm, x/ác nhận tấm biên lai và lời chứng của thợ may. Bà nhìn dòng chữ "Giữ lại nhãn cũ, không tháo", nước mắt cuối cùng cũng rơi xuống. Bà kể rằng mẹ nuôi khi còn sống chưa bao giờ giải thích tại sao lại kh//âu như vậy, chỉ nói "cả hai cái tên đều không phải là giả". Lúc đó bà không hiểu, giờ mới biết, mẹ nuôi thực ra đã làm mọi thứ trong khả năng của mình để kh//âu đoạn đời trước và đoạn đời sau của bà lại cùng nhau trong bộ áo cưới.

Bà Tú Hà đồng ý nói ra điều này tại buổi họp báo gia đình, nhưng vẫn kiên quyết không công khai tên mẹ đẻ. Bà cũng yêu cầu tiệm áo cưới gỡ bỏ tất cả những lời giải thích sai lệch như "hai cô dâu mặc chung một bộ áo cưới". Nhược Lan ghi từng điều vào bản thảo ủy quyền, đồng thời thêm vào ba mục: "Lưu trữ ẩn danh", "Không trưng bày khuôn mặt có thể nhận diện", và "Có quyền rút lại sự công khai sau này".

Khi thấy mẹ đặt bút ký tên, Cảnh Văn chợt nói với Nhược Lan: "Hóa ra thừa nhận một người, không nhất thiết phải nói ra tất cả mọi chuyện về người đó."

Nhược Lan gật đầu: "Đôi khi giữ lại, chính là một phần của sự thừa nhận."

Chiều hôm ấy, bộ áo cưới được đặt lại vào tủ duy trì độ ẩm. Hai mảnh vải ghi tên vẫn nằm trong trong ngoài ngoài, không bị tháo ra, cũng không bị lật lên trưng bày. Nhược Lan nhìn lớp Iót đó, trong lòng hiểu rất rõ, việc phục chế thực sự không phải là phơi bày mọi thứ ẩn giấu ra ngoài, mà là phán đoán điều gì nên được bảo tồn, điều gì nên được nhìn thấy, và ai mới là người có quyền quyết định hai việc đó.

Nhược Lan tạo ra một sơ đồ phục chế từ ảnh chụp mẫu đường kh//âu của mảnh vải ngoài và vị trí mảnh vải cũ bên trong, chỉ ghi chú về cấu trúc chứ không ghi tên. Điều này giúp các nhà nghiên c/ứu tương lai vẫn có thể hiểu được kỹ thuật và các tầng lớp thân phận mà không cần phải biết danh tính cá nhân của đương sự.

Nhược Lan làm sơ đồ phục chế về cấu trúc hai lớp vải, chỉ ghi niên đại đường kh//âu, vị trí và các lớp vải, không viết bất kỳ cái tên nào. Cô hy vọng rằng dù sau này các nhà nghiên c/ứu cần tìm hiểu kỹ thuật đặc biệt của bộ áo cưới này, cũng không cần phải biết đương sự là ai. Sau khi xem sơ đồ, bà Tú Hà đồng ý phần này có thể công khai, và tự tay đá/nh dấu vào bảng ủy quyền: "Có thể dùng cho nghiên c/ứu kỹ thuật, thông tin thân phận được niêm phong". Cảnh Văn nhìn mẹ mình đá/nh dấu từng ô một, chợt nói điều này còn khiến người ta an tâm hơn cả một câu "tùy ý". Nhược Lan biết, anh đã thực sự hiểu ra: ủy quyền không phải là giao nộp tất cả một lần, mà có thể chia nhỏ ra cho nhiều mục đích khác nhau.

Sau khi ký tên cạnh sơ đồ, bà Tú Hà đưa bút lại cho Nhược Lan, nói rằng phần này có thể để lại, nhưng xin đừng coi "ẩn danh" là một khoảng trống mà ai cũng có thể tùy ý viết lại. Nhược Lan ghi thêm điều này vào mục ghi chú sử dụng.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Đến khi chú chó chăn cừu Đức bị an tử, tôi mới hiểu được ám hiệu

Chương 16
Con chó chăn cừu Đức tên Hắc Báo đã cắn con trai 5 tuổi của tôi, khiến thằng bé phải khâu 15 mũi trên mặt, vết thương sâu đến tận xương. Vợ tôi gào thét trong cơn cuồng loạn: "Tôi không cần biết lý do là gì, hôm nay nó nhất định phải chết!" Mẹ vợ tôi cũng phụ họa theo: "Tôi tận mắt nhìn thấy con chó đó lao vào cắn, loại chó điên này không thể giữ lại!" Tôi đích thân ký vào tờ đơn đồng ý an tử, ôm Hắc Báo nhìn mũi tiêm đâm vào người nó. Cơ thể nó dần mềm nhũn, đôi mắt vẫn luôn nhìn chằm chằm vào tôi. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Hắc Báo dùng chút sức tàn liếm vào lòng bàn tay tôi – một cái, hai cái, ba cái. Tôi cứ ngỡ nó đang từ biệt. Cho đến khi bác sĩ thú y cúi xuống kiểm tra cổ nó, rồi thì thầm một câu nói. Lúc đó, tôi mới biết mình đã sai lầm đến mức nào.
Tình cảm
0