Sáng hôm sau, Chỉ Hành bắt đầu từ chính những thanh dầm gỗ. Cô mang theo kính hiển vi cầm tay, máy đo độ ẩm và bảng ghi chép, đo đạc lần lượt mười hai thanh dầm theo số hiệu tạm thời. Mật độ vòng tuổi, màu sắc tâm gỗ, mức độ oxy hóa của lỗ đinh cũ và hướng vết c/ưa của gỗ bách đều lưu lại dấu vết của thời gian. Gỗ không biết nói, nhưng hiếm khi hoàn toàn đồng thuận với lời kể của con người.
Lỗ đinh của thanh dầm số bốn là nơi đầu tiên để lộ sơ hở. Tấm thẻ đinh hiện tại dùng đinh mạ kẽm loại mới, nhưng bên dưới vẫn còn một vòng oxy hóa màu đen do một bộ đinh đầu vuông để lại. Đối chiếu với những bức ảnh tháo dỡ, Chỉ Hành phát hiện một thanh dầm cũ của ngôi trường trăm năm tuổi tại huyện Gia Nghĩa quả thực đã dùng đinh đầu vuông để cố định thẻ số năm xưa. Sau khi phóng to ảnh, ngay cả một đường phấn chéo trên mặt gỗ cũng khớp hoàn toàn.
Buổi trưa, ông Lâm Quốc Khâm, tổng vụ đã về hưu của ngôi trường đó, tìm đến xưởng x/ẻ gỗ. Ban đầu ông chỉ muốn xem lại “những khúc gỗ già mà trường đã hiến tặng năm xưa”, không ngờ Chỉ Hành vừa mở lời đã hỏi ngay: “Năm đó các ông là hiến tặng, hay là gửi nhờ?”
Ông Lâm ngẩn người: “Tôi nhớ là gửi đến xử lý trước, đợi trường quyết định công năng sử dụng. Lúc đó hội trường bị dỡ bỏ, nhiều gỗ bị ngâm nước mưa, mọi người sợ để đó thì mục nát.”
“Có ký văn bản hiến tặng vĩnh viễn không ạ?”
“Không. Ít nhất là tôi chưa từng thấy.”
Tú Ngọc ở bên cạnh không nhịn được xen vào: “Nhưng sau đó các ông cũng không đến lấy, còn để chúng tôi sửa chữa, đó chẳng phải là ngầm đồng ý sao?”
Sắc mặt ông Lâm trở nên khó coi: “Không đến lấy, không có nghĩa là các cô có quyền đổi sang thẻ của trường khác.”
Chỉ Hành lập tức tiếp lời, không để cuộc đối thoại rơi vào sự trách móc. Cô mời ông Lâm x/ác nhận các đặc điểm của thanh dầm trước khi quyết định có đồng ý cung cấp lời khai hay không. Sau khi xem ảnh cũ và các lỗ đinh, đối phương x/ác nhận thanh dầm số bốn đúng là vật liệu từ hội trường của trường cũ, nhưng chỉ đồng ý giữ lại tên trường và năm tháo dỡ, tạm thời chưa cho phép công khai trưng bày.
“Hội cựu học sinh chúng tôi còn phải thảo luận thêm,” ông Lâm nói, “Trước đây mọi người nghĩ c/ứu được gỗ là quan trọng nhất, giờ mới nhận ra, sau khi c/ứu được rồi thì dùng như thế nào cũng phải nói cho rõ ràng.”
Câu nói này khiến lòng Chỉ Hành chùng xuống. Cô nhìn Tú Ngọc, thấy dì đang cúi đầu sắp xếp giấy tờ như thể không nghe thấy gì.
Buổi chiều, người đến tiếp theo là bà Trần Mỹ Phượng từ hiệp hội phát triển cộng đồng. Bà nhận ra thanh dầm số hai. Khúc gỗ đó từng được gia công thành đế trưng bày rồi lại tháo ra hình dáng ban đầu, mặt bên để lại những vết bào không liên tục. Mỹ Phượng vừa nhìn thấy đã nói: “Đây là gỗ từ hành lang phân hiệu cũ của chúng tôi. Trước đây vào ngày kỷ niệm thành lập trường, bọn trẻ còn từng treo dải băng lên đó.”
Bà lật tìm những bức ảnh từ hai mươi năm trước trong điện thoại. Chỉ Hành đối chiếu lớp sơn, quả nhiên tìm thấy một mảng sơn màu xanh nhạt, trùng khớp với màu dầm hành lang trong ảnh. Thế nhưng tấm thẻ đinh hiện tại lại ghi chú là từ một ngôi trường khác.
Tú Ngọc cuối cùng không nhịn được nữa: “Lúc đó sau cơn bão, một đống gỗ đổ về cùng lúc, thực sự rất lo/ạn. Dì chỉ chia đống trước, sau này cần dùng mới treo thẻ lại.”
“Căn cứ để treo lại thẻ là gì ạ?” Chỉ Hành hỏi.
“Nhìn kích thước, nhìn tình trạng, nhìn xem ngôi trường nào trông giống hơn.”
Chỉ Hành dừng lại vài giây: “Vậy ra không phải x/ác nhận, mà là đoán.”
Sắc mặt Tú Ngọc lập tức trầm xuống: “Lúc đó dì một mình trông kho, cha cháu thì bận công trình, nhà thầu lại cứ hối thúc, bây giờ cháu đứng đây nói thì tất nhiên là dễ rồi.”
Chỉ Hành bị câu nói này đ/âm trúng. Cô biết dì mình không phải hoàn toàn vô lý. Những năm trước khi cha gặp t/ai n/ạn, Tú Ngọc quả thực gần như sống trong nhà kho, hễ gặp bão là giữa đêm lại quay về kê cao gỗ. Sự vất vả của dì là thật, nhưng sai lầm cũng là thật.
“Cháu không phải muốn chứng minh dì năm đó làm việc không vất vả,” Chỉ Hành nói, “Cháu chỉ muốn biết, những quyết định nào là bất đắc dĩ lúc bấy giờ, và những quyết định nào sau đó trở thành thói quen.”
Tú Ngọc không trả lời.
Chiều tối, Chỉ Hành lưu kết quả giám định của hai thanh dầm đầu tiên vào các tệp riêng biệt, đồng thời thiết lập quyền hạn khác nhau giữa dữ liệu công khai và dữ liệu nội bộ. Ông Lâm chọn “Hạn chế trưng bày, đợi hội cựu học sinh x/ác nhận”; bà Mỹ Phượng chọn “Giám định lại rồi mới quyết định”. Cô không tự ý điền kết quả cho bất kỳ ai.
Trước khi tan làm, cô lại đến xem thanh dầm số bảy. Ký hiệu mộng ghép của cha trong ánh nắng xiên trông như một dấu chấm câu chưa nói hết lời. Chỉ Hành bỗng nhớ lại câu nói cha thường hay nhắc khi còn sống: “Gỗ có thể chắp vá, nhưng nguồn gốc thì không được phép lẫn lộn.”
Câu nói đó giờ nghe vừa như nguyên tắc, lại vừa như sự mỉa mai. Lần đầu tiên cô hoài nghi, có lẽ cha không phải không biết thẻ nhãn bị thay đổi, mà là sau khi biết vẫn chọn cách im lặng.
Sau khi hai vị chủ sở hữu rời đi, Chỉ Hành không lập tức gỡ thẻ cũ xuống, mà chia thành ba cột: “Thẻ hiện tại”, “Thẻ nghi là gốc”, “X/ác nhận của chủ sở hữu”. Cô nhắc Tú Ngọc rằng, tấm thẻ sai cũng là một phần của lịch sử, không thể vì muốn quay về đáp án đúng mà xóa sạch dấu vết của sai lầm. Tú Ngọc nhìn chằm chằm vào ba cột đó hồi lâu, cuối cùng chính bà đã cất những tấm thẻ đinh cũ vốn định vứt đi vào túi vật chứng.