Tủ sắt nhỏ nằm khuất sau phòng sấy cũ, cánh cửa phủ đầy bụi gỗ thành một màu xám xịt. Tú Ngọc phải dùng đến ba chiếc chìa khóa mới mở được. Bên trong không có vật gì giá trị, chỉ có vài cuốn sổ kho bọc trong giấy da bò, hai xấp thư từ trao đổi công trình, và một chiếc bìa c/òng màu xanh mà cha cô đã viết đầy những ghi chú khi còn sống.
Chỉ Hành mang mọi thứ lên bàn làm việc, xếp từng cuốn theo thứ tự năm tháng. Những cuốn sổ kho sớm nhất có thêm hai cột so với phiên bản chính thức bên ngoài: Nguồn gốc ban đầu và Số hiệu tạm thay thế. Cô nhanh chóng nhìn thấy chín trong số mười hai thanh dầm gỗ đều từng có số hiệu tạm, và trong đó có bốn thanh mà tên trường đăng ký chính thức sau này khác với nguồn gốc ban đầu.
“Dì biết chuyện này từ lâu rồi sao?” cô hỏi.
Tú Ngọc đứng bên bàn, sắc mặt tái nhợt: “Dì biết có sự thay đổi, nhưng không phải thanh nào cũng nhớ rõ.”
“Tại sao không lấy ra sớm hơn?”
“Vì cuốn sổ này mà lấy ra, nó sẽ chứng minh những cuốn sổ chính thức sau này của dì đã bị sửa.”
Lồng ngựk Chỉ Hành lạnh toát. Cô từng nghĩ dì mình chỉ là ghi chép lộn xộn, giờ đây mới hiểu ra, Tú Ngọc quả thực đã chủ động chỉnh lý một phiên bản trông “sạch sẽ” hơn.
Tú Ngọc không trốn tránh: “Ban đầu là để đối chiếu lại lô gỗ sau cơn bão. Nhưng sau đó Thái Thịnh mang ảnh của họ đến, nói vật liệu nào thuộc dự án nào, dì cứ thế mà sửa theo. Đến khi dì phát hiện kích thước không khớp thì cha cháu đã ký vài tờ đơn rồi, dì càng không dám lật lại nữa.”
Chỉ Hành lật đến trang có tên cha mình xuất hiện. Bên cạnh có một ký hiệu bút đỏ mà cô chưa từng thấy: một dấu hỏi nằm trong hình tam giác. Trong chiếc bìa c/òng màu xanh, cô tìm thấy lời giải thích tương ứng: “Nguồn gốc chờ x/ác nhận, tạm thời không di chuyển.”
“Ông ấy rõ ràng đã viết là tạm thời không di chuyển,” giọng Chỉ Hành r/un r/ẩy, “Tại sao sau đó vẫn xuất kho?”
Tú Ngọc nhắm mắt lại: “Vì dự án trưng bày bị chậm trễ, nhà thầu nói nếu không giao vật liệu sẽ đòi bồi thường. Cha cháu đã cãi nhau với họ, cuối cùng vẫn đồng ý dùng tạm. Ông nói đợi sau khi công trình kết thúc sẽ bổ sung nguồn gốc chính x/ác.”
“Rồi ông ấy gặp t/ai n/ạn.”
Tú Ngọc gật đầu.
T/ai n/ạn của cha không xảy ra tại xưởng x/ẻ gỗ, mà là khi ông rơi xuống trong lúc đi khảo sát kết cấu gỗ ở huyện khác. Nhiều năm qua, gia đình đã đơn giản hóa khoảng thời gian đó thành “ông việc quá bận rộn, quá mệt mỏi”. Giờ đây Chỉ Hành mới biết, trước khi t/ai n/ạn xảy ra, ông còn gánh trên vai vấn đề nguồn gốc vật liệu chưa được giải quyết xong.
Cô không vội trách móc. Điều khiến cô đ/au lòng nhất là cha cô thực sự đã nhìn thấy sai lầm, nhưng lại chọn cách “đợi sau này bổ sung” làm giải pháp. Cái “sau này” đó đã không bao giờ đến, trách nhiệm chỉ còn lại cho những người sống che giấu cho nhau.
Buổi chiều, Chỉ Hành số hóa cuốn sổ kho gốc, lập bảng đối chiếu phiên bản. Cô yêu cầu mỗi dữ liệu sửa đổi sau này đều phải giữ nguyên trạng, không được ghi đ/è, không được xóa bỏ. Tú Ngọc đích thân viết lời giải thích: trang nào là bà ghi lại theo dữ liệu của nhà thầu, trang nào là suy đoán theo trí nhớ, trang nào bà không thể x/ác nhận.
Viết được một nửa, Tú Ngọc dừng bút: “Cháu sẽ công khai tất cả những thứ này sao?”
“Không phải tất cả. Dữ liệu gốc sẽ được phong tỏa trước. Công khai đến mức độ nào còn tùy thuộc vào sự đồng ý của các chủ thể quyền lợi.”
“Còn phần của cha cháu thì sao?”
Chỉ Hành im lặng một lúc: “Cái gì chứng minh được thì nói. Cái gì không chứng minh được, không bổ sung thay ông ấy, cũng không biện hộ thay ông ấy.”
Viền mắt Tú Ngọc đỏ hoe: “Trước đây dì luôn nghĩ, nói tròn trịa mọi chuyện thay cho người đã khuất là việc người nhà nên làm.”
“Trước đây cháu cũng nghĩ vậy,” Chỉ Hành nói, “Cho nên hai dì cháu mình mới kéo dài đến tận bây giờ.”
Câu nói này không phân nặng nhẹ. Lần đầu tiên giữa dì và cháu không còn là một người tra, một người bị tra, mà là cùng nhau thừa nhận rằng các cô từng bị danh tiếng gia đình dẫn dắt.
Chiều tối, Chỉ Hành tìm thấy một bản ghi nhớ chưa gửi từ trang cuối của chiếc bìa c/òng. Cha cô viết: Nguồn gốc mười hai kiện vật liệu cũ cần tra lại, tạm dừng trưng bày. Bên dưới liệt kê bảy số hiệu tạm lưu, vừa vặn bao gồm cả thanh dầm số bảy và số mười.
Tờ giấy đó không làm Chỉ Hành thấy nhẹ nhõm hơn. Cha cô biết vấn đề, nhưng không kịp xử lý, cũng từng ký vào những tờ đơn có nghi vấn dưới áp lực. Sự thật không phải là để tẩy trắng cho ông, cũng không phải đẩy ông thành người x/ấu, mà là để ông trở lại làm một con người bình thường: biết do dự, biết trì hoãn và biết phạm sai lầm.
Tú Ngọc nhìn bản ghi nhớ đó, cuối cùng nói: “Trong buổi họp công khai, dì sẽ mang cuốn sổ kho gốc ra.”
Chỉ Hành ngước nhìn dì.
“Không phải để một mình cháu gánh vác,” Tú Ngọc nói, “Là do dì tự sửa sổ, thì dì tự giải thích.”
Để tránh việc sổ kho gốc lại bị thay thế bởi một phiên bản duy nhất, Chỉ Hành đặt tệp quét ở chế độ chỉ đọc, đồng thời lập chỉ mục sửa đổi. Mỗi khi Tú Ngọc bổ sung một đoạn lời khai, bà đều phải giữ lại ngày tháng và người giải thích. Ban đầu bà thấy phiền phức, nhưng đến mục thứ ba thì bà tự nói: “Ít nhất sau này không ai lấy lời nói hôm nay của dì để nói rằng dì đã nghĩ như vậy từ mười năm trước.” Chỉ Hành nghe thấy câu này mới thực sự tin rằng dì mình đã bắt đầu hiểu được ý nghĩa của việc lưu giữ dấu vết phiên bản.