Trần Ngọc Hoàn sống ở Bắc Cảng, thời trẻ từng viết rất nhiều lời dẫn và đoạn kịch bản ứng biến cho các đoàn múa rối, đoàn hát ca tử và kịch cộng đồng. Văn Xuyên đã nghe cái tên này từ nhỏ, nhưng luôn tưởng bà chỉ chép giúp vài đoạn khi cha anh quá bận rộn. Không ngờ khi thực sự gặp mặt, bà lật những bản thảo cũ mà mình lưu giữ ra, đã phơi bày nguyên trạng của vở "Trả nguyện trong lửa" trước mặt hai người.

Trần Ngọc Hoàn đã ngoài bảy mươi, cách nói chuyện vẫn giữ vẻ dứt khoát. Nghe xong mục đích của hai người, bà chỉ nói một câu: "Cuối cùng các anh cũng muốn tra lại vở kịch đó rồi." Sau đó, bà lấy từ trong túi giấy da bò ra ba bản thảo. Bản thứ nhất là bản thảo đầu tiên bà viết theo lời kể của Quách Kim Hải, kể về việc đoàn hát gặp hỏa hoạn tại buổi diễn đêm miếu hội, phó tướng quay lưng c/ứu rương đạo cụ, mọi người hợp sức di dời tượng thần, phông màn và kinh thư ra ngoài; bản thứ hai thêm vào một đoạn đ/ộc thoại về việc tế lửa trả nguyện; bản thứ ba, cũng chính là bản định hình được công diễn sau này, toàn bộ trọng tâm đã bị đổi thành câu chuyện anh hùng "lão chủ đoàn ôm bảo vật c/ứu hỏa, bảo vệ huyết mạch đoàn hát".

"Mấy đoạn trong bản thứ ba không phải tôi viết," Trần Ngọc Hoàn ấn ngón tay lên những chỗ sửa đổi chi chít bằng bút đỏ, "là do chính sư phụ Quách tự sửa. Ông ấy nói người ngoài nghe chuyện cần nắm được trọng tâm, không thể ai cũng viết giống nhau, nếu không sẽ không có vị kịch. Lúc đó tôi đã nhắc nhở, đoạn 'phó tướng quay lưng' trong bản gốc thực ra là tình tiết chân thực mà các anh kể cho tôi nghe tại hiện trường, nhưng ông ấy chỉ đáp một câu: 'Kịch phải lập được nhân vật chính'."

Văn Xuyên nghe đến đây, lồng ngựk thắt lại từng đợt. "Bà có biết sau này ông ấy nói với bên ngoài rằng đó là đoàn tự biên tự diễn không?"

Trần Ngọc Hoàn mỉm cười, nụ cười không chút hơi ấm. "Các đoàn hát cũ rất hay làm vậy. Nhờ người chấp bút, rồi sửa thành giọng văn của mình, cuối cùng nói là bản gốc của đoàn. Tôi không ngạc nhiên. Chỉ không ngờ sau này ngay cả việc ai là người lao vào biển lửa tại hiện trường cũng bị sửa đổi cùng lúc."

Bà lật trang cuối của bản thảo cho hai người xem, bên trên vẫn còn lưu lại một dòng kết mà bà thiết kế ban đầu: 'Đoàn còn, không phải nhờ một người đơn đ/ộc giữ; lửa lui, là do nhiều tay cùng c/ứu'. Câu này hoàn toàn biến mất trong bản định hình, thay vào đó là câu "Một con rối trong tay, tổ mạch không bao giờ dứt" do Quách Kim Hải thêm vào. Văn Xuyên nhìn chằm chằm vào hai câu đối chiếu, gần như có thể nhìn thấy cha mình đã từng nét từng nét, biến biển lửa vốn thuộc về nhiều người thành một huyền thoại gia tộc phù hợp để lưu truyền như thế nào.

Minh Chương ở bên cạnh hỏi, nếu sau này muốn công khai lịch sử các phiên bản, liệu có thể trích dẫn ba bản thảo làm bằng chứng không. Trần Ngọc Hoàn đồng ý, nhưng đưa ra một yêu cầu: Nếu con rối và kịch bản sau này được triển lãm, phải ghi rõ kịch bản có bản gốc, bản chấp bút và bản sửa đổi sau này, không được chỉ để mỗi bản cuối cùng, khiến khán giả tưởng rằng câu chuyện vốn dĩ là như vậy. "Câu chuyện thay đổi thế nào, quan trọng hơn chính câu chuyện đó," bà nói, "bởi vì điều đó đại diện cho việc ai đã bị loại bỏ ở giữa."

Câu nói này khiến Văn Xuyên lâu không thể tiếp lời. Khi còn trẻ, điều anh yêu thích nhất chính là khả năng của cha mình - chỉ cần mở miệng là có thể khiến vở kịch trở nên sống động. Giờ đây anh mới hiểu, cái gọi là "lập kịch" không chỉ dựa vào giọng nói và hơi thở, mà còn dựa vào việc chọn ai ở lại, ai bị xóa đi. Cha anh quả thực rất giỏi, chỉ là sự giỏi giang đó bao năm qua đều dùng vào việc đẩy những người và chi tiết bất tiện ra phía sau màn nhung.

Sau khi về đoàn, Văn Xuyên sắp xếp ba bản thảo lên bảng trắng, đặt cùng với những trang sổ diễn bị thiếu, ảnh bảo trì và sổ tay của Lâm Vĩnh Lộc. Cả bức tường như một sơ đồ giải phẫu của một vở kịch: từ cái tên khắc bên trong con rối, đến bản sửa kịch bản, rồi đến lời chứng tại hiện trường, mỗi một manh mối đều chỉ về cùng một sự thật - Quách Kim Hải không phải đơn thuần là nhớ nhầm, mà là có ý thức, trong thời gian dài, gấp những sáng tạo và sự mạo hiểm của nhiều người khác nhau thành một đường dây gia tộc thuận tiện cho việc kể chuyện ra bên ngoài.

Minh Chương nhìn bức tường đó, bỗng nói: "Trước đây điều tôi h/ận nhất không phải là ông ấy thiên vị, mà là ông ấy rõ ràng biết mọi người cùng thành tựu nên một vở kịch, cuối cùng lại giống như chỉ có một mình ông ấy có thể đại diện cho tất cả."

Văn Xuyên dựa vào bàn, hồi lâu mới đáp: "Điều tôi sợ nhất trước đây, là nếu không để ông ấy kể như vậy, đoàn hát sẽ tan rã."

Minh Chương quay đầu nhìn anh, không phản bác ngay. Bởi vì anh nghe ra được, câu nói này không phải là biện hộ cho Quách Kim Hải, mà là Văn Xuyên cuối cùng đã nói ra lý do cho sự im lặng của chính mình suốt bao năm qua. Đoàn hát năm đó đang gặp thời kỳ suy thoái, thị trường bên ngoài thu hẹp, miếu hội cũng ít đi, Quách Kim Hải nhờ vào "bảo vật trấn đoàn" và câu chuyện "nhà họ Quách c/ứu hỏa" mà nhận được không ít lời mời diễn và phỏng vấn. Văn Xuyên biết, và chính vì biết nên anh không hỏi.

Anh viết lời thừa nhận này vào cuốn sổ tay của mình: Tôi không phải không biết, tôi sợ đoàn hát sụp đổ. Viết xong, ngón tay anh khẽ run. Bởi vì câu nói này cuối cùng đã đưa anh từ một "người con chỉ là không nhìn rõ" trở về vị trí thực sự - anh cũng là một trong những người duy trì phiên bản đó.

Bóng đêm ngoài cửa sổ từ từ tràn vào, ánh đèn hậu trường chiếu lên những tờ giấy ghi lại các phiên bản khác nhau trên tường, góc giấy khẽ r/un r/ẩy trong làn gió nhẹ từ điều hòa. Văn Xuyên bỗng cảm thấy, cả đời mình đã kể biết bao nhiêu vở kịch, không lần nào hiểu rõ hơn lúc này rằng, khi một câu nói bị thay đổi, điều thực sự thay đổi chính là ai có thể được ở lại.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Trước khi xưởng áo mưa lâu đời ở Nghi Lan ngừng hoạt động, cô cùng cựu cán bộ công đoàn đã truy tìm mười hai cuốn sổ kiểm định chống thấm bị đánh tráo.

Chương 12
Giang Bội San, nhân viên kiểm định vật liệu 48 tuổi tại Nghi Lan, trở về nhà máy để hỗ trợ kiểm kê trong thời gian dừng dây chuyền sản xuất. Tại phòng thí nghiệm, cô cùng Lâm Chí Huân, cựu cán bộ công đoàn đã nghỉ việc mười năm trước vì tranh chấp tai nạn lao động, phát hiện 12 cuốn sổ ghi chép kiểm tra chống thấm có bìa và số trang mâu thuẫn với mẫu vải gốc. Cả hai đã đối chiếu từng cuốn sổ với hồ sơ hiệu chuẩn thiết bị kiểm tra, mẫu vải lưu kho, mật độ mũi kim, dữ liệu mua hàng và thông tin quẹt thẻ, đồng thời để các nhân viên bị ảnh hưởng tự quyết định việc ký tên, ẩn danh, rút đơn hoặc giao cho cơ quan thanh tra lao động xử lý. Quá trình truy soát đã phơi bày việc Chí Huân từng trì hoãn báo cáo sự bất thường đầu tiên để giữ vị trí nhân viên thời vụ, còn Bội San cũng từng vì tin vào lời hứa miệng của cấp trên mà ký xác nhận vào bản kiểm tra sai lệch. Sau khi máy kiểm tra áp suất nước bị nổ, họ từ chối mạo hiểm kiểm tra lại vì thời hạn dừng dây chuyền. Cuối cùng, cả hai đã tự nhận trách nhiệm tại buổi họp giải trình công khai, thúc đẩy việc thu hồi các lô hàng có vấn đề, thực hiện bồi thường và thiết lập hệ thống lưu vết kiểm tra không thể ghi đè, đồng thời xây dựng lại sự hợp tác bắt đầu từ việc đặt câu hỏi cho nhau trong từng bước đi.
0