Đến ngày thứ bảy, Gia Vân dồn sự chú ý vào chính 12 tờ bảng điểm danh đã bị sửa đổi. Cô không thỏa mãn với việc chỉ chứng minh chúng được in lại, mà còn muốn làm rõ liệu phương thức sửa đổi có mang tính hệ thống hay không. Vì vậy, cô đã tổng hợp các đoạn trích xuất từ camera phòng nghỉ, cửa kiểm soát ra vào bến bãi, thời gian quẹt thẻ tan làm và danh sách đào tạo huấn luyện thành một bảng đối chiếu, kiểm tra từng phút một.

Trong 12 vụ t/ai n/ạn, có 9 vụ thể hiện cùng một nhịp độ: nhân viên quẹt thẻ từ 5 đến 10 phút trước giờ tan làm theo quy định; trong vòng 10 phút sau đó, dữ liệu kiểm soát ra vào phòng nghỉ hoặc bến bãi cho thấy họ vẫn đang ở trong trạm; t/ai n/ạn xảy ra và được đưa đi cấp c/ứu hoặc xử lý; ngày hôm sau, quản lý bổ sung một danh sách đào tạo huấn luyện, ghi chú khoảng thời gian này là "chia sẻ công việc", "thị phạm cho người mới" hoặc "sắp xếp trạm bãi". Danh mục khác nhau nhưng mục đích thì giống nhau: biến công việc lẽ ra phải tính là tăng ca thành hoạt động trông giống như tự nguyện ở lại.

Quan trọng hơn, Gia Vân mượn được từ bộ phận tổng vụ một hộp lưu trữ cũ. Trong hộp còn sót lại vài chiếc ghim bấm đã tháo và một mảnh giấy gốc chưa bị hủy hoàn toàn. Trên mảnh giấy đó vẫn còn nhìn thấy thời gian điểm danh của một trong những người bị thương cùng dấu vết chỉnh sửa bằng tay của quản lý. Dù chỉ là một góc nhỏ, nhưng đủ để chứng minh bản gốc thực sự đã tồn tại và có người đã can thiệp vào các cột thông tin.

"Đây không phải là ý định nhất thời của một quản lý cá biệt nào đó." Gia Vân đặt mảnh giấy đó vào túi trong suốt và nói với Quốc Xươ/ng: "Mà là một phương thức cố định: quẹt thẻ trước, giữ người lại, sau khi xảy ra chuyện thì bổ sung danh sách huấn luyện, cuối cùng là in lại bảng điểm danh để lưu trữ."

Quốc Xươ/ng gật đầu: "Đó là lý do tại sao tôi luôn nói rằng, đây không phải là ai xui xẻo, mà là cả trạm này đều dựa vào cách đó để duy trì bảng phân công. Chỉ là khi chưa xảy ra chuyện thì ai cũng nuốt trôi, đến lúc xảy ra chuyện mới có người bị đẩy ra làm vật tế thần."

Hai người quyết định tìm gặp một nhân viên từng làm trợ lý điều phối, hiện đã chuyển sang trạm khác. Người này ban đầu không dám gặp mặt, chỉ nói rằng năm đó anh ta chỉ làm theo chỉ đạo để sắp xếp tài liệu, sợ rắc rối. Gia Vân giải thích qua điện thoại rằng cô không yêu cầu anh phải đứng về phía nào, chỉ hy vọng anh x/ác nhận một số quy trình. Cuối cùng, anh đồng ý gặp mặt tại cửa hàng tiện lợi.

Người trợ lý đó mang đến một tờ giấy ghi chú công việc cũ, trên đó viết: "Định dạng danh sách đào tạo huấn luyện vẫn giữ nguyên, gửi lại trước trưa ngày hôm sau khi xảy ra t/ai n/ạn." Nét chữ không phải của quản lý ký tên, nhưng cho thấy rõ việc bổ sung danh sách này không phải là ngẫu nhiên. Anh còn hạ giọng nói thêm một câu: "Trước đây trưởng điều độ từng nói, nếu sau khi quẹt thẻ mà còn phải bù dỡ hàng thì đừng mở đơn tăng ca nữa, sẽ bị trụ sở soi chi phí. Danh sách thì dễ xử lý, bảng điểm danh chỉ cần in lại là xong."

Gia Vân hỏi liệu anh có sẵn lòng để lại bản tường trình bằng văn bản không. Người đó do dự rất lâu, cuối cùng chọn cách ẩn danh và chỉ rõ rằng chỉ giới hạn sử dụng trong buổi giải trình lao động, không công khai danh tính. Gia Vân tôn trọng lựa chọn của anh, chỉ thu thập những phần có thể chứng minh quy trình đó tồn tại vào chuỗi bằng chứng.

Đêm đó quay lại trạm, Gia Vân dán tất cả dữ liệu đối chiếu lên tường phòng họp. Cả bức tường từ trái sang phải hiển thị rõ ràng mạch lạc của việc sửa đổi có hệ thống. Quốc Xươ/ng đứng trước bức tường một lúc lâu mới nói: "Nếu mười năm trước cũng có người vạch trần mọi chuyện từng chút một như thế này, thì nhiều người đã không phải nghĩ rằng mình là kẻ duy nhất xui xẻo."

Gia Vân im lặng một lúc: "Người đó mười năm trước vốn có thể là tôi."

Quốc Xươ/ng không tiếp lời hối h/ận của cô, chỉ thản nhiên đáp: "Vậy thì bây giờ ít nhất cô đừng tự đặt mình vào vị trí người duy nhất có quyền lên tiếng nữa."

Cô hiểu ý ông. Cuộc điều tra này càng gần với sự thật, càng dễ khiến cô quay lại vị trí quen thuộc: chuyên gia sắp xếp, chuyên gia phát biểu, chuyên gia đại diện cho tất cả mọi người. Nhưng cô cũng ngày càng hiểu rằng, sự tiện lợi đó chính là mặt trái của vấn đề.

Vì thế, cô mở bản thảo thuyết trình cho buổi giải trình, xóa tiêu đề cũ "Giải trình kết quả kiểm toán" và thay bằng "Dữ liệu ủy quyền của đương sự và đối chiếu kiểm tra". Trang đầu tiên của nội dung được thêm một dòng chú thích: Mọi bằng chứng đều được sử dụng theo phạm vi ủy quyền của người cung cấp, không thay mặt đương sự đưa ra hòa giải hoặc xử lý nếu không có sự đồng ý của họ.

Quốc Xươ/ng xem xong, cuối cùng cũng nở nụ cười chân thành hiếm hoi trong mấy ngày qua: "Câu này viết được đấy."

Gia Vân lưu bản thuyết trình, cảm giác đứng giữa thể chế suốt nhiều năm qua mà không bao giờ chạm được chân xuống mặt đất trong lòng cô lần đầu tiên dần rơi xuống thực tại. Sự thật không còn là kết luận mà cô phải nộp cho công ty, mà là một bức tranh được ghép lại từ những trải nghiệm vụn vỡ mà mỗi người lao động cơ sở đã giao ra, một bức tranh không thể bị che đậy dễ dàng nữa.

Sau khi sắp xếp xong, Gia Vân chia thủ thuật sửa đổi của 12 tờ bảng thành các bước cố định, chuẩn bị trình bày từng mục tại buổi giải trình. Cô không muốn làm cho tình hình trở nên chấn động, mà hiểu rằng chỉ khi nói đủ rõ ràng, ban quản lý mới không thể thu nhỏ vấn đề thành "sai sót văn thư của quản lý cá biệt". Sau khi nghe cách trình bày của cô, Quốc Xươ/ng cũng chủ động nhắc nhở những vụ t/ai n/ạn nào dễ bị công ty dùng để gây nhiễu nhất, nhờ đó nhịp điệu làm việc của hai người càng thêm ăn ý.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Trước khi xưởng áo mưa lâu đời ở Nghi Lan ngừng hoạt động, cô cùng cựu cán bộ công đoàn đã truy tìm mười hai cuốn sổ kiểm định chống thấm bị đánh tráo.

Chương 12
Giang Bội San, nhân viên kiểm định vật liệu 48 tuổi tại Nghi Lan, trở về nhà máy để hỗ trợ kiểm kê trong thời gian dừng dây chuyền sản xuất. Tại phòng thí nghiệm, cô cùng Lâm Chí Huân, cựu cán bộ công đoàn đã nghỉ việc mười năm trước vì tranh chấp tai nạn lao động, phát hiện 12 cuốn sổ ghi chép kiểm tra chống thấm có bìa và số trang mâu thuẫn với mẫu vải gốc. Cả hai đã đối chiếu từng cuốn sổ với hồ sơ hiệu chuẩn thiết bị kiểm tra, mẫu vải lưu kho, mật độ mũi kim, dữ liệu mua hàng và thông tin quẹt thẻ, đồng thời để các nhân viên bị ảnh hưởng tự quyết định việc ký tên, ẩn danh, rút đơn hoặc giao cho cơ quan thanh tra lao động xử lý. Quá trình truy soát đã phơi bày việc Chí Huân từng trì hoãn báo cáo sự bất thường đầu tiên để giữ vị trí nhân viên thời vụ, còn Bội San cũng từng vì tin vào lời hứa miệng của cấp trên mà ký xác nhận vào bản kiểm tra sai lệch. Sau khi máy kiểm tra áp suất nước bị nổ, họ từ chối mạo hiểm kiểm tra lại vì thời hạn dừng dây chuyền. Cuối cùng, cả hai đã tự nhận trách nhiệm tại buổi họp giải trình công khai, thúc đẩy việc thu hồi các lô hàng có vấn đề, thực hiện bồi thường và thiết lập hệ thống lưu vết kiểm tra không thể ghi đè, đồng thời xây dựng lại sự hợp tác bắt đầu từ việc đặt câu hỏi cho nhau trong từng bước đi.
0