Buổi chiều ở Công Quán, Miêu Lật mang theo mùi đất khô. Khi Kh//âu Nhã Văn đẩy cánh cửa sau của lớp học gốm cũ, lò củi mà cha nuôi để lại đã tắt lửa nửa năm nay, trên tường vẫn còn treo chiếc d/ao tỉa gốm và móc lò mà ông thường dùng khi còn sống. Chỉ còn ba tuần nữa, lò gốm sẽ bị phá bỏ, lớp học cũng sẽ được cải tạo thành không gian cộng đồng để học tập nghề thủ công. Vốn dĩ cô chỉ được ủy thác quay về để bảo quản và kiểm kê tác phẩm, nhưng lại nhìn thấy mười hai món trà cụ không ghi rõ tác giả ở tầng dưới cùng của tủ lưu trữ.
Những chiếc chén, bát và ấm nhỏ đó đều từng xuất hiện tại các cuộc triển lãm địa phương, trong danh mục đều được thống nhất ghi là "Bộ sưu tập Kh//âu Quốc Lương". Thế nhưng khi Nhã Văn lật đáy của chiếc chén trà men xanh xám đầu tiên, cô liền nhìn thấy một vòng vết mài không tự nhiên. Dấu triện dưới đáy như bị đ/á mài ăn mòn, sau đó được khắc lại hai chữ "Quốc Lương" mà cha nuôi thường dùng. Chiếc thứ hai, chiếc thứ ba cũng vậy, chỉ là độ sâu của vết khắc lại khác nhau.
"Cuối cùng chị cũng thấy rồi."
Một giọng nói lạnh nhạt vang lên phía sau. Nhã Văn quay đầu lại. Nhã Tình đang đứng ở cửa, trong tay ôm một thùng men gốm cần sắp xếp. Trên danh nghĩa họ là chị em, nhưng thực tế đã ba năm rồi họ không nói với nhau một câu tử tế. Nhã Tình là con gái được cha nuôi nhận nuôi, kém Nhã Văn năm tuổi, từ nhỏ cũng lớn lên trong lớp học này. Sau khi cha nuôi qu/a đ/ời, hai người cãi nhau kịch liệt về việc có nên giữ lại lớp học hay tiếp tục triển lãm các tác phẩm hay không, cuối cùng Nhã Tình dọn ra ngoài tự dạy làm gốm.
"Em biết từ lâu rồi sao?" Nhã Văn hỏi.
Nhã Tình đặt thùng xuống, không nhìn cô: "Biết vài món không đúng. Nhưng em chưa từng đụng vào mười hai món này."
Hai người bắt đầu xem xét từng món một. Đáy của mười hai món trà cụ đều còn lưu lại những vết cũ bị mài đi, trong đó có ba món vẫn còn nhìn thấy chữ viết tắt tiếng Anh của các học viên khác nhau, một chiếc thì trên thành trong có một đường men trang trí không thuộc phong cách của cha nuôi, mảnh và hơi ngả tím, như giấu một hình ngọn núi nhỏ dưới lớp men.
Khi Nhã Tình nhìn thấy đường kẻ đó, tay rõ ràng khựng lại.
"Em nhận ra ký hiệu này?"
Cô im lặng hồi lâu mới nói: "Hồi nhỏ có người dạy em làm như thế."
Nhã Văn không truy hỏi là ai. Những năm qua cô đã học được rằng, điều Nhã Tình gh/ét nhất là khi nghe thấy chuyện con nuôi hay thân thế, người khác liền lập tức suy diễn mọi vấn đề theo hướng huyết thống.
Họ lại lấy những danh mục triển lãm cũ từ trong tủ ra. Tác phẩm của học viên từ các năm khác nhau, các khóa học khác nhau, sau này được biên soạn thành cùng một bộ sưu tập, còn mục tác giả thì đều bị đổi thành tên cha nuôi. Nhã Văn càng xem càng thấy lạnh lòng, bởi vì danh mục "Triển lãm hồi cố gốm Kh//âu Quốc Lương" mười năm trước chính là do cô hỗ trợ đá/nh máy và sắp xếp.
Cô vẫn nhớ lúc đó cha nuôi nói: "Những đứa trẻ này lớn lên đều tản mát cả rồi, tác phẩm để lại lớp học, tên tuổi đừng đăng lung tung, phiền phức." Cô không kiểm tra, cũng không hỏi, chỉ nhập liệu theo bản thảo của ông.
Nhã Tình nhìn sắc mặt cô, lạnh lùng nói: "Chị đừng có bây giờ mới làm ra vẻ không biết gì."
Câu nói này rất sắc nhói, nhưng không sai. Nhã Văn đặt mười hai món trà cụ vào khay giấy không axit, đá/nh số tạm thời cho từng món. "Đừng phá lò vội." Cô nói, "Mười hai món này phải điều tra cho rõ."
Nhã Tình ngước mắt: "Điều tra ra cha nuôi, chị cũng dám tiếp tục sao?"
Nhã Văn nhìn tấm ảnh gia đình ố vàng trên tường, người cha đứng ở giữa, cô và Nhã Tình đứng hai bên, cười như thể lúc đó chưa có gì bị rạn nứt.
"Dám." Cô nói, "Nhưng lần này, từng cái tên đều phải do chính người làm ra tác phẩm quyết định."
Ngoài lớp học, gió buổi chiều thổi vào từ phía cánh đồng lúa. Cửa lò đã tắt lửa từ lâu đen ngòm, như một vết thương cũ đang chờ được mở ra.
Khi họ tiếp tục dọn dẹp tủ, còn tìm thấy các tờ đơn mượn triển lãm của mười hai món trà cụ trước đây. Những tờ đầu tiên chỉ ghi "Tác phẩm học viên", sau đó dần dần trở thành "Tác phẩm Kh//âu Quốc Lương". Sự thay đổi này không phải diễn ra trong một ngày, mà là mỗi lần in lại danh mục lại tiết kiệm được một bước, bớt hỏi một người. Nhã Văn xếp từng tờ đơn mượn theo thứ tự năm, lần đầu tiên nhìn thấy sự sai lầm đã trở thành truyền thống như thế nào.
Còn Nhã Tình tìm thấy vài chiếc hộp giấy do học viên tự làm từ góc phòng lò, đáy hộp vẫn còn dán tên của những người khác nhau. Cô không vội lấy làm bằng chứng, mà chụp ảnh lưu lại trước. "Những thứ này chỉ chứng minh từng có người thu thập như vậy, không thể trực tiếp chứng minh là món trà cụ nào." Cô nói. Nhã Văn gật đầu. Trước đây cô luôn cảm thấy em gái chỉ phản đối theo cảm tính, nay lại phát hiện Nhã Tình sẵn sàng dừng lại ở những chỗ thiếu bằng chứng hơn cả mình. Điều này khiến trong lòng cô vừa hổ thẹn, vừa có thêm một chút hy vọng về việc hợp tác trở lại.
Vì vậy, họ tạm dừng mọi hoạt động triển lãm và cho mượn mười hai tác phẩm này, do hai người cùng bảo quản cho đến khi ý nguyện của tác giả được thực hiện đối với từng món. Quyết định này khiến triển lãm kỷ niệm phá lò vốn đã được sắp xếp thiếu đi quá nửa số tác phẩm, nhưng cũng lần đầu tiên khiến lớp học chấp nhận cái giá của việc "để trống", thay vì lấy tác phẩm của người khác lấp đầy các bức tường.
Họ cũng hẹn ước rằng, bất cứ món nào chưa được tác giả x/ác nhận đều sẽ không được đưa vào triển lãm kỷ niệm phá lò. Những tủ trưng bày trống cứ để trống, không lấy tác phẩm của người khác lấp đầy.