Sau khi kho lạnh được khôi phục, An Tình lấy ra toàn bộ hồ sơ trưng bày qua các năm của cuộn phim gây tranh cãi. Cô vốn nghĩ chỉ cần gỡ bỏ năm tháng sai lệch là có thể giải quyết, không ngờ thứ mà Thừa Thái xây dựng cho bộ ảnh này không chỉ là một ngày tháng sai, mà là cả một hệ thống thần thoại gia đình được lặp đi lặp lại suốt nhiều năm.
Lần công khai đầu tiên là tại triển lãm kỷ niệm nhà năm 93, với tiêu đề "Sau cơn bão, gia đình chúng tôi cùng ngắm bầu trời sao". Sau đó trong các buổi diễn thuyết nhiếp ảnh, các ấn phẩm địa phương và hai lần phỏng vấn truyền hình, Thừa Thái dần dần bổ sung câu chuyện thành "Sau bão Morakot, cả nhà cùng trở lại nhà tinh tú ngắm bầu trời sao rạn mây". Đến triển lãm kỷ niệm 20 năm của nhà tinh tú mười năm trước, bên cạnh bức ảnh thậm chí còn thêm một đoạn văn bản của ban quản lý: "Nhiếp ảnh gia Hứa Thừa Thái cùng vợ con cùng nhau canh giữ bầu trời đêm sau thảm họa, trở thành biểu tượng cho sự phục hồi của gia đình nhân viên và thành phố."
An Tình xếp từng tài liệu đó lên bàn. "Mẹ chưa bao giờ đồng ý làm biểu tượng phục hồi thành phố đúng không?"
Thừa Thái không nói gì.
"Con cũng vậy." Cô bổ sung thêm.
Lần này ông không phản bác mà ngồi xuống nhìn những dòng chữ mình đã kể vô số lần. Sau khi Tuyết Linh qu/a đ/ời, ông quả thực thường xuyên nhắc đến bộ ảnh này hơn. Mỗi lần nói đến "gia đình ba người", khán giả bên dưới luôn im lặng, luôn có người nói cảm động, nói gia đình họ thật dũng cảm. Dần dần, đoạn tường thuật đó giống như để lại cho người vợ quá cố một phiên bản không b/ệnh tật, không rời xa, đồng thời cũng giữ lại một bức ảnh mà cha con họ vẫn luôn đứng bên nhau dù tình cảm đã dần xa cách.
"Sau khi mẹ con đi, bố rất sợ mỗi khi người ta nhắc đến bà ấy, chỉ còn lại b/ệnh u/ng t/hư." Thừa Thái cuối cùng cũng lên tiếng, "Vì vậy bố cứ kể mãi về đêm đó. Như thể chỉ cần bức ảnh đó còn ở đó, bà ấy không phải là b/ệnh nhân, mà là người cùng chúng ta ngắm sao."
Cổ họng An Tình thắt lại. Không phải cô chưa từng nghĩ việc bố sửa ngày tháng có liên quan đến b/ệnh tình của mẹ, nhưng khi thực sự nghe ông nói ra lý do, cô vẫn thấy khó chịu hơn cô tưởng. Bởi vì động cơ đó không phải vì tư lợi, cũng không phải muốn tranh thủ lòng thương hại, mà là một người chồng sau khi mất vợ đã lấy bức ảnh làm bức tường ngăn cản cái ch*t.
"Nhưng bố không muốn mẹ chỉ còn là b/ệnh nhân, không có nghĩa là bố có thể biến mẹ thành một loại biểu tượng khác." An Tình nói.
Thừa Thái gật đầu. "Bố biết rồi."
An Tình nhìn ông, đột nhiên hỏi: "Vậy tại sao bố chưa bao giờ nói với con, bức ảnh thực ra được chụp vào năm sau?"
Thừa Thái im lặng rất lâu mới nói, vì những lần trưng bày đầu tiên An Tình còn nhỏ, sau đó cô lớn lên, mẹ qu/a đ/ời, ông đã kể câu chuyện đó quá lâu rồi. Mỗi lần muốn đính chính, đều giống như thừa nhận rằng suốt bao nhiêu năm ông đã lấy ký ức của cả gia đình để hoàn thiện một hình tượng công chúng. Ông sợ con gái thất vọng hơn, cũng sợ rằng một khi tháo rời câu chuyện đó ra, ông sẽ chẳng giữ lại được gì cả.
"Cho nên bố cứ mãi không nói."
"Đúng vậy."
Chữ "Đúng vậy" này không hề có sự biện minh, ngược lại khiến những lời buộc tội đã chuẩn bị sẵn trong lòng An Tình đột nhiên mất đi một phần sức mạnh. Cô không phải đang tha thứ, mà là lần đầu tiên thực sự nhìn thấy bố không phải chỉ muốn kiểm soát người khác, mà chính ông cũng bị kiểm soát bởi câu chuyện do mình dựng lên.
Hai người tiếp tục liệt kê toàn bộ các lần trưng bày và diễn thuyết qua các năm vào "Hồ sơ công khai hiện có", lần lượt đá/nh dấu sai sót gốc, các lần thuật lại sau đó và liệu có liên quan đến ám chỉ về b/ệnh tình của mẹ hay không. An Tình chủ trương, nếu triển lãm đóng cửa giữ lại bộ ảnh này, thì nên công khai "quá trình sửa nhãn", thay vì chỉ đổi sang năm tháng chính x/ác, nếu không khán giả vẫn sẽ tưởng đó chỉ là một sai sót hành chính đơn thuần.
Thừa Thái đồng ý, nhưng đưa ra một điều kiện: không công khai ngày nhập viện và thông tin phòng b/ệnh của Tuyết Linh, chỉ nói "năm chụp từng được thay đổi do nhu cầu tường thuật gia đình, thông tin y tế cá nhân liên quan đã được lưu trữ theo di nguyện của người quá cố".
Nghe xong, An Tình lần đầu tiên cảm thấy bố thực sự hiểu ý nghĩa tờ giấy của mẹ. Lưu trữ không phải là che đậy, mà là thừa nhận rằng một số bằng chứng chỉ cần dùng để phán đoán quyền lợi, không cần phải lấy ra để thuyết phục khán giả.
Cô viết nguyên tắc này vào bản dự thảo hội nghị ủy quyền, bố cô nhìn bên cạnh, đột nhiên nói: "Con làm những việc này, có phải cũng sợ cuối cùng mọi người chỉ nhớ đến việc bố sửa nhãn không?"
An Tình sững người.
"Câu chuyện của mẹ con không nên chỉ còn lại b/ệnh tật, câu chuyện của bố cũng không nên chỉ còn lại việc sửa nhãn." Thừa Thái dừng lại, "Nhưng lần này bố biết, không phải dựa vào việc tự mình bù đắp bằng một phiên bản khác."
An Tình không trả lời, chỉ đẩy bản dự thảo sang cho ông, mời ông tự viết "Lời giải thích lý do sửa nhãn". Bố cô cầm bút, không yêu cầu cô sửa chữ giúp mình.
Khoảnh khắc đó, An Tình đột nhiên cảm nhận được sự nới lỏng thực sự trong mối qu/an h/ệ của hai người, không nằm ở việc bố thừa nhận làm sai, mà ở việc lần đầu tiên ông không nhờ cô nói giảm nói tránh cho những lỗi lầm đó.
Khi sắp xếp các bài giảng cũ, Thừa Thái còn phát hiện mình từng trích dẫn một câu trong bài văn tiểu học của An Tình là "Sau bão bầu trời rất sáng" vào tạp chí của nhà, bên cạnh chú thích là "Con gái nhớ gia đình đã nhìn thấy bầu trời sao sau cơn bão". An Tình đọc xong chỉ nói, bài văn đó viết về bầu trời sau một buổi dã ngoại khác. Thừa Thái sững người vài giây, rồi tự mình đưa bút mục này vào bảng đính chính. Sai sót nhỏ này không nghiêm trọng bằng việc sửa ngày tháng trên phim, nhưng lại khiến ông nhìn rõ hơn bao giờ hết, mình đã quen việc thu gom những câu chữ rời rạc vào cùng một câu chuyện gia đình như thế nào.