Sáng hôm sau, Bội Dung mang 13 tờ bảng vào phòng họp không có người làm việc, dùng đèn quét và kính lúp soi từng tờ một. Những chỗ bị bút xóa che phủ vẫn có thể nhìn thấy vết hằn dưới ánh sáng nghiêng, vài tờ thậm chí còn sót lại nét chữ của số liệu gốc. Cô ghi chép lại những dấu vết có thể nhận diện, sau đó đối chiếu với số hiệu báo cáo kiểm tra của phòng thí nghiệm năm đó.
Trong đó, số liệu của 5 tờ bảng có sự thay đổi đặc biệt rõ rệt. Báo cáo kiểm tra gốc cho thấy nồng độ dung môi trong một số ca làm việc tại khu giặt khô tiệm cận hoặc vượt mức cảnh báo nội bộ, nhưng bảng phơi nhiễm phiên bản của xưởng lại bị sửa thành con số thấp hơn rõ rệt; hai tờ khác sửa "quạt thông gió dừng ba ngày" thành "hoàn thành bảo dưỡng định kỳ". Bội Dung kiểm tra tiếp dữ liệu nhập th/uốc, phát hiện lượng sử dụng cùng tháng đó không hề giảm, ngược lại còn cao hơn bình thường gần 30%.
"Đây không giống như điền nhầm." Cô khoanh tròn các con số lại.
Thục Huệ ngồi ở phía đối diện lật bảng phân ca của nhân viên, thản nhiên đáp: "Tất nhiên không phải. Trước đây có người hỏi, quản lý chỉ nói số liệu quá cao sẽ làm mọi người h/oảng s/ợ, cứ lấy giá trị trung bình trước là hợp lý."
"Lấy giá trị trung bình?" Bội Dung nhíu mày.
"Ý là, giấu đi những lần trông khó coi nhất." Thục Huệ rút ra một bảng phân ca cũ, chỉ vào số lượng người làm ca đêm, "Cô xem, mấy ngày này quạt thông gió hỏng, ngược lại lại xếp nhiều người tăng ca nhất. Vì ban ngày quần áo khách quá tải, chỉ có thể làm gấp vào ban đêm."
Bội Dung đối chiếu ngày tháng, lập tức phát hiện những tờ phiếu khám sức khỏe đó cũng có điểm bất thường. Hai nhân viên cùng xuất hiện tình trạng chức năng gan bất thường, chóng mặt và tê tay trong cùng một thời điểm, một người khác từng phải đến b/ệnh viện gần đó cấp c/ứu. Cô biết rằng chỉ dựa vào triệu chứng không thể trực tiếp kết luận nguyên nhân, nhưng ít nhất cũng đủ để chứng minh rủi ro phơi nhiễm năm đó cần được đá/nh giá lại.
Cô hỏi Thục Huệ liệu lúc đó có ai giữ lại dữ liệu lấy mẫu gốc hay không. Thục Huệ không trả lời ngay mà chỉ nói: "Có, nhưng không phải cứ bây giờ cô nói cần là họ bắt buộc phải đưa ra. Để tôi đi hỏi người trong cuộc trước."
Câu nói này khiến Bội Dung khựng lại một chút. Cô vốn đã quen với việc thiếu dữ liệu là lập tức thu thập, nhưng lại quên mất rằng đằng sau những số liệu kiểm tra này là những con người cụ thể, không phải nguồn chứng cứ đơn thuần.
Buổi chiều, một nhân viên đã nghỉ hưu tên Trương Tú Lan đồng ý gặp mặt trước. Họ hẹn nhau tại một quán ăn sáng gần xưởng. Tú Lan mang theo một túi tài liệu trong suốt, bên trong có bản sao kiểm tra sức khỏe cá nhân năm đó và một báo cáo xét nghiệm m/áu tự chi trả. Vừa ngồi xuống, bà đã nói ngay: "Tôi có thể cho cô xem, nhưng tôi không muốn công ty biết sau này tôi có điều trị phụ khoa, chuyện này liên quan đến gia đình tôi."
Bội Dung lập tức tách riêng các tài liệu, chỉ ghi chép những mục liên quan đến đá/nh giá phơi nhiễm dung môi, các b/ệnh sử khác tuyệt đối không sao chép. "Được ạ. Chị cũng có thể chỉ ủy quyền sử dụng cho đợt kiểm tra này thôi, không đưa vào báo cáo công khai."
Tú Lan có chút ngạc nhiên. "Trước đây công ty toàn bắt chúng tôi đưa cả cuốn b/ệnh án."
"Lần này không cần thiết." Bội Dung nói.
Sau khi đối chiếu, họ phát hiện kết quả kiểm tra chất chuyển hóa trong nước tiểu của Tú Lan năm đó từng cao hơn mức trung bình trong hồ sơ của xưởng, nhưng lại không xuất hiện trong danh sách phơi nhiễm bất thường. Quan trọng hơn, bà nhớ rằng sau lần lấy mẫu đó, quản lý từng bắt vài người vài ngày sau lấy mẫu lại một lần nữa, nói rằng lần đầu "tình trạng cơ thể không ổn định".
Trên đường về xưởng, Thục Huệ hỏi Bội Dung: "Bây giờ cô có thấy bản báo cáo năm đó càng nhìn càng khó coi không?"
Bội Dung không phủ nhận. "Có. Lúc đó tôi quá tin vào dữ liệu đã qua xử lý của công ty, còn cảm thấy chị cứ chất vấn là đang chính trị hóa mọi chuyện."
Thục Huệ nhìn cô, giọng điệu bình thản. "Cô có thể thừa nhận sai lầm, nhưng đừng biến tôi thành người đã nhìn thấu tất cả từ đầu. Lúc đó tôi cũng chỉ biết mọi người không thoải mái, không biết số liệu rốt cuộc bị sửa như thế nào."
Bội Dung gật đầu. Lời nhắc nhở này khiến cô nhận thức rõ một lần nữa rằng, công bằng không phải là tâng bốc một bên thành anh hùng, đẩy bên kia thành kẻ x/ấu, mà là đặt lại vị trí thực sự cho việc ai biết gì, ai đã làm gì và ai sẵn sàng gánh vác đến đâu.
Chiều tối, họ liệt kê 5 tờ bảng phơi nhiễm đáng ngờ nhất vào danh sách kiểm tra ưu tiên, bên cạnh thiết lập cột đối chiếu: Kiểm tra gốc, bảng phân ca nhân viên, hồ sơ thông gió, nhập th/uốc, dữ liệu y tế ủy quyền cá nhân. 13 tờ bảng bị bôi xóa không còn chỉ là những sai sót trên mặt giấy, mà dần dần hiện ra một phương thức pha loãng có định hướng. Bội Dung nhìn những con số bị sửa nhỏ đi đó, lần đầu tiên cảm thấy câu nói "thiếu bằng chứng khách quan" của mình trước đây nông nổi đến mức nào.
Sau khi về xưởng vào buổi tối, Bội Dung lại tính toán lại thời gian lấy mẫu của 5 tờ bảng đáng ngờ nhất. Cô phát hiện bảng tổng hợp của công ty không chỉ lấy giá trị trung bình của các giá trị cao, mà còn thường viết lại tình trạng phơi nhiễm cao trong thời gian ngắn thành mức trung bình cả ca làm việc, khiến những đỉnh điểm nguy hiểm gần như biến mất trên con số. Sau khi nghe cô giải thích, Thục Huệ nói rằng điều này khớp hoàn toàn với tình trạng nhân viên thường phàn nàn nhất trước đây: không phải cả ngày đều khó chịu, mà là mỗi khi khởi động máy, bổ sung th/uốc hoặc vệ sinh bồn chứa thì đặc biệt nồng nặc. Hai loại bằng chứng lần đầu tiên khớp nhau ở cùng một chi tiết. Bội Dung làm thêm một cột "Phơi nhiễm đỉnh điểm" cho đoạn này, đồng thời ghi chú rằng theo dõi y tế tiếp theo không được chỉ nhìn vào nồng độ trung bình. Cô hiểu rất rõ, nếu lỗ hổng này không được lấp đầy, thì trong tương lai dù dữ liệu không thể bị bôi xóa, cũng có thể dùng cách tính toán để làm phẳng đi những nguy hiểm thực sự.