Buổi chiều tại thành phố Đài Đông, gió từ phía biển thổi tràn vào trạm phát thanh cũ, mang theo vị mặn và tiếng kim loại va chạm từ công trường tháo dỡ cột phát sóng. Khi Lâm Thu Huệ đẩy thùng chống ẩm vào phòng tư liệu, bên ngoài trạm, những công nhân đang vây quanh tòa tháp phát sóng hoen gỉ bằng băng cảnh báo, dự kiến hai tuần nữa sẽ tiến hành phá dỡ. Ở tuổi 48, cô đã có hơn hai mươi năm kinh nghiệm trong lĩnh vực phục chế âm thanh, những năm gần đây cô định cư tại Đài Bắc, lần này trở về chỉ đơn thuần là nhận ủy thác từ cơ quan văn hóa để kiểm kê lần cuối, chuyển đổi lưu trữ và phân loại quyền sở hữu các cuộn băng gốc của trạm cũ.
Cô cứ ngỡ đây là một công việc chỉ cần tuân theo quy trình là hoàn tất, cho đến khi cánh cửa phòng tư liệu mở ra, âm thanh đầu tiên lọt vào tai cô lại là một giọng nói quá đỗi quen thuộc.
“Đừng di chuyển hàng trên cùng, giá đỡ bị lỏng rồi.”
Ngô Tuấn Kiệt bước ra từ phía bên kia của giá sắt. Anh 52 tuổi, tóc đã bạc hơn nhiều so với trong ký ức của cô, trên tay vẫn cầm một xấp lịch phát sóng. Mười lăm năm trước, họ là cặp bài trùng thường xuyên được cử đi đưa tin về các đợt thiên tai; cũng chính là những người đã cãi nhau đến mức rời khỏi nhóm làm việc sau đợt đưa tin sơ tán trong trận bão ở vùng núi năm ấy.
Thu Huệ khựng lại một giây rồi mới đặt thùng xuống. “Tôi biết cách di chuyển.”
Tuấn Kiệt không nói gì thêm, chỉ đặt lịch phát sóng lên bàn. “Trạm trưởng bảo tôi hỗ trợ đối chiếu trình tự thời gian của các bản tin năm đó. Mười một cuộn băng về thiên tai đang thiếu chỉ mục hoàn chỉnh, tôi nắm rõ các cuộc phỏng vấn tại hiện trường hơn.”
Nghe thấy cụm từ “nắm rõ hơn”, lòng Thu Huệ vẫn nhói lên một vết thương cũ. Năm đó, chính Tuấn Kiệt đã khăng khăng đòi phát sóng trước một đoạn băng ghi âm phỏng vấn ở vùng núi, bất chấp việc người được phỏng vấn đã nói thêm một câu “đoạn về gia đình đừng phát” sau khi thu âm xong. Anh lại nói rằng tình hình thiên tai đang thay đổi, không thể chờ đợi. Sau đó, phiên bản phát sóng và thông báo c/ứu hộ lại mâu thuẫn nhau, trong cuộc điều tra trách nhiệm tại trạm, Thu Huệ đã lập chỉ mục sai cho băng gốc, còn Tuấn Kiệt thì đổ lỗi cho cô, cuối cùng cả hai c/ắt đ/ứt liên lạc hoàn toàn.
Cô đeo găng tay vào, kiểm tra mười một cuộn băng cối ở tầng dưới cùng của tủ sắt, được dán nhãn “Đêm bão”. Mỗi vỏ cuộn băng đều ghi ngày tháng, khung giờ phát sóng và tên phóng viên, thoạt nhìn thì rất ngăn nắp, nhưng màu keo dán trên cuộn thứ ba và thứ bảy rõ ràng khác nhau. Keo của cuộn thứ tư đã ố vàng, trong khi cuộn thứ bảy lại là loại keo trong suốt mới hơn, như thể đã được dán lại sau này. Kỳ lạ hơn nữa là trên bề mặt băng của cuộn thứ chín có hai đoạn từ tính bị mài mòn không liên tục, nhưng trên lịch phát sóng bằng giấy lại chỉ ghi chú là “tín hiệu không ổn định trong thời gian ngắn”.
“Lô băng này đã bị c/ắt ghép lại.” Thu Huệ nói nhỏ.
Tuấn Kiệt tiến lại gần, không chạm vào bề mặt băng mà chỉ cúi người nhìn vết nối. “Tôi nhớ năm đó cấp trên có yêu cầu lược bỏ vài đoạn có thể làm lộ vị trí trú ẩn, nhưng đáng lẽ chỉ xử lý hai cuộn thôi.”
Thu Huệ ngước mắt lên. “Cả mười một cuộn giờ đều có vết nối.”
Cả hai im lặng đặt mã số băng gốc, ngày tháng trên vỏ hộp, lịch phát sóng và hồ sơ phát sóng cạnh nhau. Mâu thuẫn đầu tiên xuất hiện rất nhanh: vỏ giấy của cuộn thứ năm ghi 9 giờ 40 phút tối, nhưng lịch phát sóng lại ghi 9 giờ 27 phút, trong khi ảnh chụp đồng hồ tại phòng máy phát lại cho thấy thời gian ghi âm thực tế gần 10 giờ. Mâu thuẫn thứ hai còn rõ ràng hơn, thời gian sơ tán của một bộ lạc vùng núi trong thông báo c/ứu hộ sớm hơn thời gian công khai trên đài tận ba mươi tám phút, nhưng nội dung phỏng vấn trong băng lại bị c/ắt ghép như thể được ghi âm sau khi việc sơ tán đã hoàn tất.
Thu Huệ rút một tấm thẻ chỉ mục cũ ra và nhìn thấy chữ ký của mình ở góc dưới bên phải. Trên thẻ viết: “Người được phỏng vấn đồng ý công khai, đoạn về gia đình không có nội dung nh.ạy cả.m”. Ngón tay cô cứng đờ. Đó là mục lục do chính cô lập ra mười lăm năm trước, cũng là căn cứ để phía trạm tuyên bố với bên ngoài rằng hồ sơ đã được x/ác nhận quyền sở hữu.
“Cái này là do cô làm.” Tuấn Kiệt nói.
“Tôi biết.” Giọng Thu Huệ lạnh đi, “Nhưng thứ tôi nhận được lúc đó là bản đã qua chỉnh sửa.”
Tuấn Kiệt không phản bác ngay. Anh đẩy một tờ lịch phát sóng khác qua, trên đó có ghi chú viết tay của chính anh: “Phát sóng sơ tán vùng núi trước, đoạn về gia đình chờ x/ác nhận.” Thế nhưng trong hồ sơ công khai thực tế, lại xuất hiện một câu hội thoại liên quan đến tranh chấp gia đình.
Cả hai cùng nhìn thấy sai lầm mà mình đã để lại.
Bên ngoài phòng tư liệu truyền đến tiếng công nhân tháo dỡ c/ắt các thanh thép, sự rung động của kim loại lan truyền dọc theo bức tường. Thu Huệ bỗng cảm thấy trạm phát sóng này giống như một cỗ máy cũ đang bị tháo rời, vẻ ngoài trông chỉ là đã đến lúc phải thay thế, nhưng bên trong lại mắc kẹt rất nhiều âm thanh chưa từng được xử lý sạch sẽ từ năm đó.
Cô lần lượt cho mười một cuộn băng gốc vào hộp bảo quản mới, dán nhãn “Tạm dừng công khai”. “Đừng chuyển thành bản trình chiếu vội. Mỗi cuộn đều phải đối chiếu lại vết c/ắt, trình tự phát sóng và nguyện vọng của người trong cuộc.”
Tuấn Kiệt gật đầu. “Tôi sẽ cùng cô kiểm tra.”
Thu Huệ không đồng ý cũng không từ chối, chỉ nhìn anh và nói: “Lần này không phải anh nói có thể phát là tôi sẽ cho rằng có thể.”
Tuấn Kiệt im lặng hai giây rồi thấp giọng đáp: “Tôi cũng sẽ không bao giờ bảo cô chỉ được tin mỗi mình tôi nữa.”
Câu nói này không làm không khí trở nên dễ chịu hơn, nhưng lại khiến mười một cuộn băng trong phòng tư liệu bỗng chốc trở nên nặng nề. Những âm thanh bị c/ắt bỏ, ghi sai, phát sóng vội vã và đặt sai chỉ mục của mười lăm năm trước cuối cùng đã quay trở lại trước mặt cả hai trước khi tòa tháp bị tháo dỡ, và lần này, không ai có thể thay ai hoàn thiện đáp án nữa.