Sau khi xử lý xong sự cố đường dây, hai người chuyển trọng tâm điều tra sang Trần Khánh Long, vị quản lý trực ban năm đó. Trần Khánh Long hiện đã nghỉ hưu và sống tại thị trấn Thành Công. Nghe tin các cuộn băng gốc đang được kiểm tra lại, ông im lặng rất lâu qua điện thoại, cuối cùng đồng ý gặp mặt nhưng yêu cầu không ghi âm trước, đợi đến khi hiểu rõ phạm vi công khai rồi mới tính tiếp.
Thu Huệ và Tuấn Kiệt chỉ mang theo sổ tay theo đúng hẹn. Trần Khánh Long ngồi ở sân trước nhà, đi thẳng vào vấn đề rằng chính ông là người ra lệnh c/ắt ghép đợt đầu tiên vào đêm bão. Lý do là vì phía c/ứu hỏa và cán bộ bộ lạc liên tục nhắc nhở rằng không được phát sóng điểm tập kết của người lánh nạn và vị trí sơ tán tạm thời để tránh làm hỗn lo/ạn đường xá, cũng như sợ có kẻ lợi dụng thiên tai để lẻn vào các ngôi nhà bỏ trống.
“Lúc đó c/ắt địa chỉ, c/ắt tên người, đến tận bây giờ tôi vẫn thấy mình làm đúng,” ông nói, “Sai là ở giai đoạn sau.”
Trần Khánh Long hồi tưởng lại, hai ngày sau bão, cấp trên bắt đầu truy hỏi vì sao trạm phát thanh lại chậm hơn phía c/ứu hỏa trong một số bản tin vùng núi. Trung tâm tin tức sợ bị quy trách nhiệm chậm trễ nên có người đề nghị “sắp xếp lại cho xuôi tai” bản băng gốc công khai, đừng để trình tự phỏng vấn và thời gian của c/ứu hỏa chênh lệch quá nhiều. Ban đầu chỉ là xóa vị trí cụ thể, về sau bắt đầu c/ắt bỏ những câu phóng viên hỏi “sao bây giờ mới nhận được tin”, rồi sau đó thậm chí còn xáo trộn cả thứ tự phỏng vấn.
“Tôi đã không ngăn cản,” Trần Khánh Long nhìn mưa rơi ngoài sân, “vì tôi nghĩ dù sao thông tin cuối cùng cũng đã phát, người cũng đã sơ tán, không cần thiết phải để cả trạm bị kỷ luật vì mấy chục phút đó. Giờ nhìn lại, chính từ lúc đó mọi thứ đã lệch lạc.”
Tuấn Kiệt hỏi ông ai là người chịu trách nhiệm cho bản công khai hậu kỳ. Trần Khánh Long cho biết phòng dựng có hai kỹ thuật viên, phía tin tức do phó chủ nhiệm lúc đó phê duyệt, còn phía lưu trữ thì nhận được “bản đã sắp xếp hoàn chỉnh” để lập chỉ mục. Thu Huệ nghe đến đây, biết ngay mình chính là người ở mắt xích cuối cùng.
“Lúc đó tôi không xem đơn c/ắt ghép gốc,” cô nói, “chỉ lập chỉ mục dựa trên bản đã có chữ ký phê duyệt của quản lý.”
Trần Khánh Long nhìn cô một cái. “Lúc đó ai cũng nghĩ có chữ ký là coi như đã x/ác nhận.”
Câu nói này khiến Thu Huệ thấy khó chịu, nhưng cũng đúng là điểm mấu chốt của vấn đề. Quy trình trông có vẻ hoàn chỉnh, nhưng thứ thực sự bị chất vấn lại không phải là “file gốc ở đâu”, “người trong cuộc đồng ý đến mức nào”, “trình tự có bị sửa không”, mà chỉ là “có chữ ký của quản lý hay chưa”.
Tuấn Kiệt hỏi tiếp về đoạn hội thoại gia đình. Trần Khánh Long nhíu mày, nói ông nhớ có người được phỏng vấn yêu cầu xóa nội dung riêng tư, lúc đó ông cũng đã đồng ý. Nhưng khi thực hiện chương trình đặc biệt hậu kỳ, phía tin tức cho rằng một câu trong đó có thể thể hiện áp lực sơ tán nên đã để lại một đoạn ngắn. Đây không còn là cân nhắc an toàn nữa, mà là việc phán đoán nội dung đã vượt quyền nguyện vọng của người được phỏng vấn.
“Lúc đó tôi nên ngăn lại,” Trần Khánh Long nói, “nhưng tôi đã không làm.”
Thu Huệ không vội đẩy trách nhiệm lại cho ông, chỉ hỏi ông có sẵn lòng để đoạn giải trình này vào buổi điều trần công khai hay không. Trần Khánh Long suy nghĩ rất lâu, cuối cùng đồng ý rằng các quyết định mang tính hệ thống của mình có thể công khai, nhưng không chấp nhận phát trực tiếp các đoạn gốc vẫn còn liên quan đến vị trí chính x/ác của người lánh nạn. Ông hy vọng thứ được công khai là lý do c/ắt ghép, quy trình và sự mở rộng sai lầm, chứ không phải là phơi bày lại những địa điểm từng được bảo vệ năm xưa.
Lựa chọn này khiến Thu Huệ gật đầu. Sự thật được công khai không đồng nghĩa với việc giải mật toàn bộ nội dung. Ngay cả khi quản lý làm sai về sau, thì quyết định bảo vệ ban đầu nhằm tránh lộ vị trí người lánh nạn vẫn có tính chính đáng của nó.
Trên đường về, Tuấn Kiệt nói: “Trước đây tôi cứ coi quản lý là người đ/è tin, giờ mới biết ban đầu ông ấy c/ắt ghép là có lý do.”
Thu Huệ nhìn ra con đường ven biển. “Cũng vì ban đầu có lý do, nên về sau mới khó bị nghi ngờ hơn.”
Hai người chia lời kể của Trần Khánh Long thành hai phần hồ sơ: sự cần thiết của việc xóa bỏ mang tính bảo vệ, và sự vượt ranh giới khi che đậy sự chậm trễ sau đó. Cách phân loại này trông có vẻ rắc rối, nhưng lại gần với sự thật hơn là bốn chữ “quản lý can thiệp”.
Sau khi về trạm, Thu Huệ viết các nguyên tắc lưu trữ mới vào bản dự thảo: phiên bản gốc, bản c/ắt ghép bảo vệ và bản công khai phải tồn tại song song, không được ghi đ/è; mỗi lần c/ắt ghép phải ghi rõ mục đích, thời gian và căn cứ ủy quyền; việc che chắn an toàn không tự động đồng nghĩa với việc ủy quyền công khai vĩnh viễn sau này.
Tuấn Kiệt xem xong, thêm vào một dòng bên cạnh: “Tính cấp bách của tin tức không được thay thế quyền rút lại của người được phỏng vấn.”
Thu Huệ ngước nhìn anh. Nếu câu này đặt vào mười lăm năm trước, có lẽ anh sẽ là người phản đối đầu tiên. Giờ đây anh viết rất chậm, như thể đang tự giải trình với chính mình.
Cả hai đều hiểu, thứ thực sự cần để lại của mười một cuộn băng này không chỉ là “âm thanh gốc”, mà là mỗi lần tại sao lại c/ắt, c/ắt đến đâu thì bắt đầu biến chất, ai là người đã không dừng lại ở điểm nút đó. Chỉ có như vậy, lịch sử mới không bị sắp xếp thành một phiên bản sạch sẽ, đơn nhất khác.
Trần Khánh Long còn chủ động đưa ra một chi tiết: khi c/ắt băng lần đầu sau bão, đoạn gốc thực ra có lưu lại một bản sao tạm thời, chỉ là sau đó không gian phòng tư liệu không đủ nên bị gộp chung vào các cuộn băng làm việc không được đặt tên rõ ràng. Manh mối này khiến hai người quyết định sau khi về trạm sẽ kiểm tra lại các cuộn băng chưa đá/nh số, thay vì coi mười một cuộn hiện có là nguồn bằng chứng duy nhất. Cũng vì thế, Thu Huệ càng tin chắc rằng chính cụm từ “bản gốc” cũng cần phải kiểm chứng, không thể vì trên vỏ hộp ghi là băng gốc mà tin ngay được.