Buổi điều trần công khai được tổ chức ba ngày trước khi tháo dỡ tháp phát sóng, diễn ra ngay tại phòng đa năng bên ngoài phòng thu âm ở tầng một của trạm phát thanh. Cư dân, đại diện bộ lạc, nhân viên c/ứu hỏa, phóng viên địa phương và đại diện cơ quan văn hóa đều có mặt. Trên tường chiếu trục thời gian phiên bản của mười một cuộn băng gốc. Điều nổi bật nhất không phải là một đoạn âm thanh cụ thể, mà là mỗi cuộn băng đều được đá/nh dấu bằng các màu sắc khác nhau: băng gốc, bản c/ắt ghép bảo vệ, bản công khai hậu kỳ và bản ủy quyền hiện hành.
Thu Huệ bắt đầu bằng việc giải thích phương pháp kiểm chứng. Cô đối chiếu từng lớp phủ từ tính, niên đại của keo dán, đồng hồ phòng máy, sổ trực ban, thông tin liên lạc c/ứu hỏa và lịch phát sóng, chứng minh rằng trong mười một cuộn băng thì có ít nhất bảy cuộn đã được c/ắt ghép hậu kỳ, ba cuộn bị xáo trộn rõ rệt trình tự c/ứu hộ và phát sóng. Năm đó, việc quản lý xóa bỏ vị trí chính x/ác của người lánh nạn ban đầu thực sự có lý do an toàn, nhưng sau đó trung tâm tin tức đã mở rộng cơ chế c/ắt ghép này thành công cụ che đậy sự chậm trễ và tái tạo hình ảnh cho trạm.
Khi nói về trách nhiệm của bản thân, Thu Huệ không bắt đầu bằng câu "năm đó tôi chỉ là nhân viên lưu trữ". Cô trực tiếp lấy ra tờ sửa đổi chỉ mục từ mười lăm năm trước, giải thích rằng cô từng nhìn thấy ghi chú kỹ thuật "trình tự thời gian có phần nghi vấn do điều chỉnh hậu kỳ", nhưng vì quản lý trả lời "bản sắp xếp đã được x/ác nhận" nên cô đã sửa nghi vấn thành "không ảnh hưởng đến trình tự sự kiện", cuối cùng khiến phiên bản sai lệch trở thành lối vào chính thức của cơ sở dữ liệu.
"Tôi từng biến một phiên bản cần phải truy vấn thành chính sử mà mọi người có thể tin tưởng ngay lập tức," cô nói, "đây không đơn thuần là lỗi cột dữ liệu, mà là tôi đã từ bỏ việc kiểm chứng."
Hiện trường im lặng. Tuấn Kiệt ngồi ở phía đối diện, đợi cô nói xong mới tiếp lời, không bổ sung, cũng không giảm nhẹ cho cô. Anh phát những đoạn phỏng vấn và nội bộ làm việc mà mình đã xin được ủy quyền, chứng minh rằng năm đó anh từng thúc giục phát sóng trước khi nguồn tin thứ hai được x/ác nhận, cũng như vẫn giữ lại một câu trong đoạn hội thoại gia đình sau khi A Mỹ đã rút lại.
"Tôi lúc đó coi việc tranh giành là giá trị tin tức," Tuấn Kiệt nói, "cũng giải thích lại lời 'đừng phát' của người được phỏng vấn thành 'chỉ cần bỏ tên là được'. Đây là trách nhiệm của chính tôi."
Tiếp đó, anh phát bản tóm tắt khẩu thuật mà Trần Khánh Long đã cho phép công khai, giải thích rằng việc xóa vị trí lánh nạn ban đầu là cân nhắc an toàn, nhưng sau bão, để tránh bị truy c/ứu trách nhiệm chậm trễ, phạm vi c/ắt ghép dần mở rộng. Để bảo vệ những nội dung có khả năng nhận dạng vị trí lánh nạn, hiện trường chỉ trình bày bằng văn bản và sơ đồ quy trình, không phát những âm thanh gốc đó.
Đến đoạn liên quan đến A Mỹ, Thu Huệ đặc biệt chuyển hình chiếu sang một tờ giải trình thuần văn bản: người được phỏng vấn đồng ý công khai đoạn thiên tai; tệp gốc hội thoại gia đình được niêm phong, không phát, không làm bản che giấu sóng âm, nghiên c/ứu cần phải xin ý kiến lần nữa. Cô không phát lại câu nói từng bị phát sóng trái phép đó.
Một phóng viên hỏi: "Vì đây là bằng chứng sai phạm, tại sao không công khai để mọi người biết nó nghiêm trọng thế nào?"
Tuấn Kiệt đáp: "Vì điều chúng ta cần chứng minh là chúng ta từng vượt ranh giới, chứ không phải là vượt ranh giới thêm một lần nữa."
Câu nói này khiến A Mỹ khẽ gật đầu trên màn hình kết nối trực tiếp tại hiện trường.
Tiếp đó, các câu hỏi của cư dân trở nên sắc bén hơn. Có người hỏi trạm phát thanh sẽ bồi thường thế nào cho những người bị các báo cáo nghiên c/ứu trích dẫn trình tự sai lệch, có người yêu cầu những người được phỏng vấn từng bị công khai trái phép phải nhận được thông báo đính chính chính thức, cũng có người lo lắng lãnh đạo tương lai vẫn có thể lấy lý do "lợi ích công cộng" để yêu cầu c/ắt ghép vượt quyền. Thu Huệ và Tuấn Kiệt không hứa hẹn những điều không thể thực hiện, chỉ giải thích từng phương án đã x/ác định: đính chính cơ sở dữ liệu, thông báo cho các đơn vị trích dẫn, đơn xin bồi thường cho cư dân bị ảnh hưởng, phiên bản gốc không được ghi đ/è, mỗi lần c/ắt ghép phải để lại lý do và thời hạn ủy quyền.
Cuối buổi điều trần, trạm trưởng vốn đã sắp xếp một đoạn kết kiểu "hòa giải giữa các cộng sự", hy vọng hai người cùng nói vài lời về việc hợp tác lại. Thu Huệ đã xem qua quy trình trước đó và loại bỏ nó. Cô không muốn sự c/ắt đ/ứt mười lăm năm bị gói gọn thành một câu chuyện đẹp đẽ qua một lời xin lỗi công khai.
Vì vậy cuối cùng cô chỉ nói: "Chúng tôi sẽ không dùng sự công khai hôm nay để yêu cầu bất kỳ ai khôi phục niềm tin vào trạm phát thanh. Hệ thống lưu trữ và ủy quyền đa phiên bản này sẽ được giữ lại, để người tương lai có thể nhìn thấy chỗ nào bị c/ắt, tại sao bị c/ắt, ai đồng ý, ai rút lại."
Tuấn Kiệt tiếp lời: "Hai chúng tôi cũng sẽ không quay lại kiểu ăn ý cũ như một người phỏng vấn, một người bù đắp cho đối phương. Sau này nếu có c/ắt ghép cùng nhau, mỗi đoạn sẽ x/ác nhận phạm vi được phát trước, sau đó mới quyết định c/ắt thế nào."
Không ai vỗ tay quá lâu, nhưng có một sự im lặng như thể mọi thứ cuối cùng đã trở về đúng vị trí. Mười một cuộn băng đó vẫn không hoàn chỉnh, thậm chí sẽ không bao giờ có một "phiên bản hoàn chỉnh" có thể công khai toàn bộ nội dung. Nhưng Thu Huệ biết, đây chính là câu trả lời quan trọng nhất tối nay: sự thật không đồng nghĩa với việc tung ra tất cả âm thanh, và sự hoàn chỉnh không cần phải đá/nh đổi bằng việc hy sinh lời từ chối của người trong cuộc.
Giữa buổi điều trần, đại diện cơ quan văn hóa cũng x/ác nhận việc bồi thường sau này sẽ không lấy điều kiện "chấp nhận đính chính coi như hòa giải" làm tiền đề. Một vài cư dân vì thế bày tỏ rõ ràng rằng họ sẵn sàng nhận thông báo đính chính, nhưng không ký bất kỳ văn bản từ bỏ quyền truy c/ứu nào. Thu Huệ ghi điểm này vào nguyên tắc kết thúc vụ việc: đính chính, bồi thường và tha thứ là đ/ộc lập với nhau, không thể bị ràng buộc thành một cuộc trao đổi để kết thúc tranh chấp một lần cho xong.