Thái Vạn Hưng cuối cùng cũng đồng ý đến Cơ Long để đàm thoại, địa điểm được chọn là phòng họp cạnh trạm dẫn nước. Ông ta mang theo một chiếc cặp cũ, bên trong có vài tờ báo giá và bản sao fax từ năm đó. Thư Ninh giải thích trước rằng cuộc phỏng vấn có thể dừng lại bất cứ lúc nào, đồng thời không yêu cầu ông ta phải chấp nhận ghi âm. Thái Vạn Hưng chọn chỉ làm biên bản văn bản.
Ông ta thừa nhận Hải Hiệp Cơ Điện từng dùng linh kiện tháo máy đã qua tu sửa để thay thế khi hàng mới về trễ, nhưng khăng khăng rằng “người ở hiện trường đều biết”. Ông ta còn đùn đẩy trách nhiệm cho trạm trưởng năm đó, nói rằng Văn Hùng cũng nằm trong chuỗi phê duyệt.
Văn Hùng ngồi bên cạnh, sắc mặt rất khó coi nhưng không tranh cãi.
Thư Ninh xếp ảnh bốn chiếc thẻ van đã bị sửa thành số hiệu chính thức lên bàn, hỏi: “Những linh kiện tạm thời này sau đó có được thay lại bằng hàng mới không?”
Thái Vạn Hưng nói không nhớ rõ.
“Vậy tại sao chi phí công trình lại được quyết toán đầy đủ theo giá hàng mới?”
Ông ta im lặng.
“Ông có thể không trả lời, nhưng tôi sẽ ghi lại việc ông chọn không trả lời.”
Câu nói này khiến Thái Vạn Hưng ngẩng đầu nhìn cô. Rõ ràng ông ta không quen với kiểu hỏi không đe dọa, cũng không nương tay này.
Cuối cùng, ông ta thừa nhận hai trong số đó không được thay lại, vì vận hành “trông có vẻ bình thường” nên đã lấy hàng mới đi dùng cho dự án khác. Về hai chiếc còn lại, ông ta nói phải về kiểm tra lại.
Lúc này Văn Hùng mới lên tiếng: “Năm đó ông nói với tôi là ba ngày.”
Thái Vạn Hưng nhíu mày: “Ông cũng biết mọi người đều đang vội mà.”
“Tôi biết,” Văn Hùng nói, “Nên tôi có trách nhiệm. Tôi đã đồng ý với linh kiện tạm thời đầu tiên. Nhưng ông lấy đó làm cái cớ để mặc định tôi đồng ý cho tất cả những cái sau, đó không phải là một chuyện.”
Thư Ninh nghe cha phân định trách nhiệm rõ ràng như vậy, trong lòng chợt chấn động. Trước đây không phải ông chỉ biết im lặng, mà là không ai cho ông không gian để nói như thế này.
Sau cuộc đàm thoại, cô lưu trữ lời thừa nhận của Thái Vạn Hưng và lời tự thú của Văn Hùng thành các hồ sơ riêng biệt, đồng thời chuyển cho cơ quan chủ quản và bộ phận pháp lý để truy thu chi phí công trình. Cô cũng thông báo cho cộng đồng rằng chi phí kiểm định bên thứ ba sẽ do trạm dẫn nước chi trả trước, không cần đợi x/ác định rõ trách nhiệm.
Buổi chiều, hộ cộng đồng thứ năm chọn không tham gia giải trình công khai, chỉ chấp nhận kiểm tra thiết bị và kết quả bằng văn bản; hộ thứ sáu yêu cầu công khai; hộ thứ bảy cho biết tạm thời chưa đưa ra ý kiến. Thư Ninh ghi lại tất cả theo lựa chọn của họ, không thúc ép.
Cha cô nhìn cô gọi điện từng hộ một, hỏi: “Con không sợ cuối cùng buổi giải trình không có ai đến à?”
“Thì không có ai đến thôi.”
“Vậy chẳng phải rất khó coi sao?”
Thư Ninh cười nhẹ: “Câu này là cha dạy con trước đây phải không?”
Văn Hùng ngẩn người rồi cũng cười: “Có lẽ là điều cha từng bận tâm nhất.”
Chập tối, họ cùng nhau lật lại đợt hồ sơ lặn cuối cùng và phát hiện thẻ van thứ mười một từng được lắp đặt lại hai tháng sau vụ t/ai n/ạn. Lần thi công đó do một nhóm thợ lặn khác thực hiện, thân van trong ảnh lại chính là hàng mới đáng lẽ phải ở vị trí số tám.
Điều này nghĩa là nhà thầu không chỉ dùng hàng tháo máy mà còn tráo đổi vật tư giữa các vị trí giếng khác nhau, khiến trên sổ sách mỗi chiếc đều có “ảnh chụp hàng mới” nhưng vị trí thực tế lại không khớp.
Thư Ninh dùng đường kẻ đỏ nối lại mười một số hiệu trên bảng trắng. Toàn bộ mô hình tráo đổi cuối cùng cũng lộ diện.
Văn Hùng đứng bên cạnh nhìn hồi lâu, đột nhiên nói: “Nếu năm đó ta nói ra chiếc đầu tiên sớm hơn một chút, có lẽ mọi chuyện đã không thành ra thế này.”
Thư Ninh không an ủi ông rằng “không phải lỗi của cha”. Cô chỉ hỏi: “Bây giờ cha có muốn đưa câu này vào buổi giải trình không?”
Văn Hùng im lặng một lúc rồi gật đầu.
“Vậy thì đưa vào.”
Không phải thay ông tha thứ, cũng không phải thay ông kết tội. Chỉ là để ông tự chọn cách gánh vác.
Sau khi Thái Vạn Hưng rời đi, Thư Ninh không vội công bố lời thừa nhận của ông ta mà gửi bản tóm tắt phỏng vấn để ông ta x/ác nhận. Ông ta xóa bỏ câu “tất cả đều là quản lý bảo tôi làm”, sửa thành “tại hiện trường tồn tại sự điều động bằng miệng”. Thư Ninh chấp nhận sửa đổi nhưng vẫn giữ lại bản thảo gốc và thời gian thay đổi, cả hai phiên bản đều được niêm phong. Văn Hùng nhìn cô thao tác, nói rằng nếu cuộc họp công trình năm đó cũng lưu lại các phiên bản như thế này, thì nhiều chuyện đã không chỉ còn là ai nhớ to tiếng hơn. Bộ phận pháp lý sau đó yêu cầu cô cung cấp danh sách “cần truy thu trực tiếp” và “cần kiểm định thêm”, cô chia mười một chiếc thẻ van thành ba tầng: bốn chiếc bằng chứng đầy đủ, một chiếc nghi vấn cao cần kiểm định vật liệu, sáu chiếc không đủ căn cứ. Có người trong ban quản lý đề nghị liệt kê tất cả lại làm một để có lợi thế đàm phán, Thư Ninh từ chối, nói rằng trách nhiệm công trình không thể lấy những điều chưa biết làm lợi thế. Văn Hùng nghe thấy vậy liền chủ động bổ sung một danh sách ký ức về các chỉ thị miệng của đội năm đó, và viết lên trên cùng là “Không phải bằng chứng tài liệu”. Ông không còn lấy thâm niên của mình làm chứng cứ nữa, mà đặt nó trở lại thành một nguồn thông tin có thể kiểm chứng. Điều này khiến Thư Ninh cảm thấy an tâm hơn bất cứ lời xin lỗi nào. Cô biết cha mình đang thay đổi từ “Ta đã làm nên ta biết” thành “Ta nhớ, nhưng con có thể kiểm tra”.