Năm ngày trước buổi giải trình công khai, Thư Ninh trở về nhà mẹ ăn tối. Mẹ cô, Diệp Thục Phân, vốn không tham gia vào cuộc điều tra, chỉ biết hai cha con dạo gần đây ngày nào cũng chạy đến trạm dẫn nước. Trên bàn cơm, bà đột nhiên nói: “Sau vụ t/ai n/ạn đó, cha con nửa đêm thường hay gi/ật mình tỉnh giấc. Lúc đó con còn đang học đại học, mẹ không dám để con biết.”
Tay cầm đũa của Thư Ninh khựng lại.
“Ông ấy không phải chỉ là không muốn nói,” mẹ cô nhìn cô, “mà là mẹ cũng bảo ông ấy đừng nói. Mẹ sợ con nghe xong sẽ không muốn làm nghề này nữa.”
Lồng ngựk Thư Ninh thắt lại. Hóa ra bao năm qua, ngay cả mẹ cũng từng quyết định thay cô rằng “không biết thì tốt hơn”.
Văn Hùng ngồi bên cạnh, không giải thích thay vợ, chỉ nói: “Ta cũng đồng ý như vậy.”
Thư Ninh nhìn ông: “Vậy là hai người cùng nhau quyết định thay con sao?”
Mẹ cô cúi đầu.
Bữa cơm đó không biến thành một cuộc cãi vã lớn. Thư Ninh cuối cùng chỉ nói: “Con biết hai người sợ con bị tổn thương, nhưng nếu người được bảo vệ đến quyền lựa chọn cũng không có, thì chưa chắc đã gọi là bảo vệ.”
Văn Hùng không phản bác.
Hôm sau, họ tiếp tục sắp xếp mười một chiếc thẻ van. Kỹ thuật viên bên thứ ba đã x/ác nhận sơ bộ, bốn chiếc đúng là linh kiện tháo máy đã qua tu sửa, hai chiếc có khả năng là hàng cũ cùng lô được chỉnh sửa lại, năm chiếc còn lại cần lưu giữ bằng chứng nhưng chưa phát hiện dấu hiệu tráo đổi. Thư Ninh phân loại kết quả, không viết thẳng “có điểm nghi vấn” thành “vi phạm”.
Cô cũng bắt đầu lập bảng lựa chọn cho cộng đồng: bồi thường thiệt hại thiết bị, bồi thường ảnh hưởng sử dụng nước, kiểm định bên thứ ba, giải trình công khai, giải trình bằng văn bản ẩn danh, tạm thời không xử lý. Mỗi hộ có thể chọn nhiều phương án hoặc rút lại.
Một cư dân vốn đồng ý công khai danh tính, sau đó tạm thời đổi thành ẩn danh. Trưởng khu lo lắng điều này làm giảm sức nặng của buổi giải trình, nhưng Thư Ninh vẫn cho rút lại. “Trải nghiệm của ông ấy không phải là tài sản bằng chứng của chúng ta,” cô nói.
Cha cô ngồi bên cạnh nghe hồi lâu, đột nhiên hỏi: “Vậy còn trải nghiệm của ta thì sao?”
Thư Ninh biết ông không đùa.
“Cũng là của cha,” cô trả lời, “Cha muốn công khai đoạn nào, tự cha quyết định.”
Văn Hùng gật đầu.
Đêm đó, ông chủ động lấy ra một chiếc hộp sắt đã khóa nhiều năm. Bên trong có các hóa đơn y tế sau t/ai n/ạn, giấy ghi chú của đội lặn và một tờ ghi nhớ do chính tay ông viết: “Linh kiện tạm thời không được quá ba ngày, nếu không thay lại thì ngừng lặn.”
“Đây là thứ ta viết cho chính mình lúc đó,” ông nói, “nhưng ta đã không thực sự dừng lại.”
Thư Ninh hỏi ông có thể đưa vào làm bằng chứng không. Văn Hùng nhìn tờ giấy hồi lâu rồi nói được, nhưng chỉ coi như ghi nhớ công việc cá nhân, không đại diện cho chế độ chính thức.
Sự giới hạn này rất quan trọng. Cô ghi chép lại y như vậy.
Hai người thu xếp tài liệu xong đã gần nửa đêm. Thư Ninh đột nhiên nói: “Trước đây mỗi khi kể với người khác về cha, con đều nói cha nghỉ việc vì t/ai n/ạn.”
Văn Hùng nhìn cô.
“Thực ra sau đó cha còn làm việc trên bờ thêm năm năm nữa. Con đã thu nhỏ cha lại chỉ còn gói gọn trong vụ t/ai n/ạn đó.”
Văn Hùng cười khổ: “Ta cũng thu nhỏ con lại thành “kỹ sư nhất định phải hỏi cho ra lẽ”, nên mỗi khi con hỏi, ta liền cảm thấy con đang thẩm vấn ta.”
Cha con nhìn nhau, không ai nói lời xin lỗi.
Có những lời nói còn thực tế hơn cả xin lỗi: đó là thừa nhận mình từng biến đối phương thành một nhân vật dễ hiểu.
Buổi giải trình chưa đến, nhưng họ đã làm được một việc khó nhất - giải thoát cho nhau khỏi những phiên bản đơn nhất.
Sau bữa tối, mẹ cô lại lấy ra một bức thư gửi cho Thư Ninh từ nhiều năm trước nhưng chưa bao giờ gửi. Trong thư vốn định kể cho cô nghe cha thường gặp á/c mộng sau t/ai n/ạn, sau đó lại được bà thu hồi vào ngăn kéo. Thư Ninh không yêu cầu đọc toàn văn, chỉ hỏi mẹ có muốn lưu lại việc này như một phần bối cảnh gia đình không. Thục Phân lắc đầu, nói không muốn để nỗi ân h/ận của mình trở thành tài liệu công khai. Thư Ninh bèn viết vào sổ ghi chép cá nhân: “Người nhà từng chọn cách không thông báo”, không quét bức thư đó. Văn Hùng nhìn quyết định này, đột nhiên nói: “Hồi nhỏ con gh/ét nhất là chúng ta nói “vì tốt cho con”.” Thư Ninh đáp: “Bây giờ vẫn vậy.” Cả ba người không ai cười nổi, nhưng cũng không tranh cãi nữa. Hôm sau, Văn Hùng giao ra một tờ đơn điều chuyển công tác trên bờ khác, chứng minh sau t/ai n/ạn ông không nghỉ hưu ngay mà còn làm kiểm kê thiết bị thêm năm năm. Thư Ninh bèn sửa lại niên biểu công khai, xóa đi dòng “rời khỏi hiện trường công việc sau t/ai n/ạn” mà cô từng viết trước đó. Cô nói thẳng với cha: “Đây là con viết sai.” Văn Hùng chỉ đáp: “Sửa lại là được.” Câu trả lời đơn giản này khiến cô hiểu ra, khôi phục niềm tin không nhất thiết lần nào cũng phải trở thành một phiên tòa cảm xúc, đôi khi chỉ là thừa nhận phiên bản đã sai, rồi để lại dấu vết sửa chữa.
Sáng hôm sau, Thư Ninh bổ sung trải nghiệm công việc trên bờ của cha vào niên biểu, rồi lại phát hiện trong một cuốn kỷ yếu gia đình, cô từng viết “cha rời bỏ công việc vì t/ai n/ạn”. Cô về nhà dán một tờ giấy đính chính lên trang đó, ghi chú ngày tháng phiên bản bên cạnh. Văn Hùng nhìn thấy thì cười cô quá trịnh trọng nhưng không ngăn cản. Thư Ninh nói: “Phiên bản gia đình cũng không thể vì riêng tư mà mãi mãi không sửa.” Cha cô nghe xong im lặng một lúc, chỉ đáp một câu: “Vậy sau này ta cũng đừng nói với ai là con chỉ biết bắt bẻ lỗi sai nữa.” Lời thừa nhận mang theo nụ cười này khiến bầu không khí giữa hai người lần đầu tiên không giống hiện trường điều tra, mà giống như những người thân thực sự.