Thông báo đóng lò đã được dán lên cửa sắt của xưởng cũ được ba ngày, Chu Duy Đình mới trở lại Tân Trúc.
Gió mùa đông bắc buổi chiều thổi từ hướng Hương Sơn lùa vào con ngõ, mái hiên bằng tôn kêu lạch cạch khe khẽ. Khi Duy Đình, 45 tuổi, kéo theo hộp đồ nghề bước vào sân, anh ngửi thấy mùi hương quen thuộc trước tiên: bột thủy tinh, nhựa thông, vật liệu hàn kim loại, và hơi nóng khô hanh lưu cữu bao năm của lò ủ thủy tinh. Mùi hương ấy khiến anh nhớ về mọi kỳ nghỉ hè, nghỉ đông trước năm 20 tuổi, và cũng nhớ về những năm tháng anh cố tình không ngoảnh đầu nhìn lại sau khi rời khỏi xưởng chế tác của gia đình.
"Anh trễ bốn mươi phút."
Chu Di Quân đứng ở đầu kia của chiếc bàn làm việc dài, không hề có lấy một lời xã giao.
Người phụ nữ 42 tuổi buộc tóc ra sau gáy, tay trái đ/è lên danh mục kiểm kê đóng lò, tay phải đang dán nhãn màu không chữ lên một chiếc thùng gỗ. Duy Đình nhận ra cô đã g/ầy đi, nhưng thần sắc lại cứng cỏi hơn trong ký ức của anh.
"Tàu cao tốc bị trễ," anh nói.
"Trước đây anh cũng sẽ gọi điện báo trước."
Một câu nói đã kéo căng khoảng trống tám năm giữa hai người.
Sau khi ông ngoại Chu Thanh Hà qu/a đ/ời, Duy Đình ở lại Đài Bắc làm công việc phục chế thủy tinh kiến trúc, còn Di Quân tiếp quản các đơn hàng và nhân sự của xưởng. Ba năm trước, trong một dự án phục chế nhà nguyện tư nhân, vì tranh chấp về tên tác giả, Duy Đình khăng khăng trong báo cáo rằng tác phẩm cần được thẩm định lại dựa trên bằng chứng kỹ thuật; nhưng Di Quân lại cho rằng anh không hỏi ý kiến gia đình đã tự ý viết những ghi chép cũ ông ngoại để lại thành "nguồn gốc cần x/ác minh". Hai người đã cãi nhau một trận lớn, từ đó về sau chỉ lịch sự trả lời bằng những nhãn dán ngày lễ trong nhóm chat của người lớn.
Hiện tại, vì chủ đất lấy lại mặt bằng, xưởng phải đóng lò và chuyển đi trong vòng một tháng. Duy Đình vốn tưởng mình chỉ chịu trách nhiệm kiểm kê lò nung và thiết bị phục chế, không ngờ ngay ngày đầu tiên, Di Quân đã đặt mười ba tấm kính màu nằm phẳng trên chiếc bàn Iót đệm.
Những khung cửa kính màu này đến từ Nhà thờ Thánh Vọng ở thành phố Tân Trúc, nơi đã có lịch sử hơn bảy mươi năm. Nhà thờ chuẩn bị tu sửa nhà nguyện, mười ba tấm kính sau khi tháo dỡ được gửi về xưởng nhà họ Chu để kiểm tra, dự kiến sẽ hoàn thành việc xây dựng kho dữ liệu hình ảnh trước khi đóng lò, sau đó chuyển đến địa điểm mới để bảo tồn.
"Lô này chẳng phải là do ông ngoại làm vào những năm 90 sao?" Duy Đình đeo găng tay cotton, cúi người nhìn tấm kính họa tiết hoa bách hợp màu xanh lam lục.
"Danh mục ghi như vậy," Di Quân đẩy cuốn sổ đặt hàng cũ đến trước mặt anh, "nhưng mã số thì không phải."
Ở góc phía sau tấm kính có khắc ký hiệu nung nhỏ xíu: QH-93-07. Nhưng băng niêm phong thùng gỗ lại ghi một dãy số thứ tự khác. Duy Đình xem tiếp tấm thứ hai, mã số nhảy vọt lên mười một; tấm thứ ba thì hoàn toàn không có ký hiệu khắc, chỉ để lại vết bút dạ đen ở chỗ giao nhau giữa các thanh chì.
"Có lẽ là sau này được đá/nh số lại," anh nói.
"Em cũng hy vọng chỉ là đá/nh số lại thôi."
Di Quân kéo ngăn kéo, lấy ra mười ba bức ảnh phục chế qua các năm. Ngày tháng ở mặt sau ảnh, tên trong danh sách hiến tặng, sổ đăng ký nung của xưởng, tất cả như bị ai đó cố tình làm lệch đi nửa nhịp. Cùng một họa tiết xuất hiện hai lần vào những năm khác nhau; một tấm hoa diên vĩ màu đỏ đứng tên ông ngoại, nhưng trong ảnh chụp thời kỳ đầu lại không có chữ ký của ông; có ba tấm sử dụng thủy tinh màu xanh coban, theo sổ công thức thì lẽ ra năm đó vẫn chưa nhập hàng.
Duy Đình không trả lời ngay. Anh cầm kính lúp lên, nhìn thấy một chuỗi bọt khí dài mảnh bên trong thủy tinh.
Lô kính này không phải được nung từ cùng một cái lò.
Tim anh chùng xuống.
"Em phát hiện ra từ khi nào?"
"Tuần trước," Di Quân nói, "Em vốn định lập hồ sơ theo dữ liệu cũ, kết quả là ảnh của tấm thứ mười ba không khớp. Em kiểm tra tiếp thì phát hiện ít nhất mười tấm có vấn đề."
"Ít nhất?"
"Ba tấm còn lại, bây giờ em cũng không dám nói là không có vấn đề."
Duy Đình ngẩng đầu. "Nhà thờ có biết không?"
Di Quân im lặng hai giây. "Em chỉ nói với họ là cần đối soát lại trước khi bàn giao."
"Vậy là em vẫn chưa nói về việc có khả năng liên quan đến sai sót về tên tác giả?"
"Em cần biết những gì chúng ta đang giữ là bằng chứng, chứ không phải suy đoán."
Từ "chúng ta" đó thốt ra rất nhẹ, nhưng Duy Đình đã nghe thấy. Anh vốn định phản bác, cuối cùng chỉ đặt kính lúp trở lại tấm đệm nhung.
Trước đây anh luôn cho rằng phán đoán chuyên môn càng nhanh càng tốt, đủ bằng chứng thì nên sửa ngay lập tức. Nhưng cuộc cãi vã ba năm trước vẫn mắc kẹt giữa hai người: khi anh tuyên bố "cần x/ác minh", Di Quân đang phải đối mặt một mình với các cuộc gọi từ người hiến tặng, nhà thờ và người lớn trong gia đình, không ai hỏi cô đã chuẩn bị sẵn sàng chưa.
"Tạm thời không sửa bất kỳ dữ liệu nào," Duy Đình nói, "Mười ba tấm đá/nh số tạm thời riêng biệt, nhãn cũ giữ nguyên, không đ/è lên. Ảnh, sổ đặt hàng, sổ công thức đều lưu trữ hình ảnh, bản gốc không được tháo trang."
Di Quân nhìn anh một cái. "Lần này anh sẽ nói với em trước, rồi mới viết kết luận ra bên ngoài chứ?"
Duy Đình khựng lại một chút.
"Sẽ."
Cô không cười, chỉ đẩy chồng bìa hồ sơ trống mới sang. "Vậy thì làm từng tấm một."
Chiều tối, hai người xếp mười ba tấm kính màu thành hai hàng dựa theo vị trí trên đệm. Trời bên ngoài tối dần, cửa sổ kính của xưởng cũ phản chiếu bóng dáng họ đứng mỗi người một bên bàn, ở giữa ngăn cách bởi mười ba tác phẩm không biết thực sự thuộc về ai.
Duy Đình viết ngày tháng lên bảng kiểm tra đầu tiên, khi dừng bút bỗng hỏi: "Nếu cuối cùng kiểm tra ra là do ông ngoại sửa thì sao?"
Cuộn băng dính trên tay Di Quân phát ra tiếng kêu ngắn ngủi.
"Thì cũng viết đúng sự thật."
Cô nói rất bình thản, nhưng Duy Đình nhìn thấy các khớp ngón tay cô trắng bệch.
Đóng lò vốn chỉ là một cuộc chia ly. Bây giờ, họ phải làm rõ trước, rốt cuộc xưởng này đã để lại tên của ai, và đã lấy đi tên của những ai.