Trước khi tìm Lâm Bội Văn, Di Quân đã làm một việc khiến Duy Đình kinh ngạc.

Cô photo một bản danh sách học viên cũ, che đi địa chỉ, số điện thoại và tên của các học viên khác, chỉ để lại thông tin của Lâm Bội Văn năm đó, rồi dùng điện thoại công vụ của xưởng gọi vào số máy đã ngừng hoạt động từ lâu. Sau khi không có người nghe máy, cô không gọi lại lần thứ hai, mà nhờ nhà thờ chuyển một bức thư ngắn qua mạng lưới liên lạc của các gia đình từng hiến tặng năm xưa.

"Như vậy rất chậm," Duy Đình nói.

"Chậm không có nghĩa là sai."

"Nếu cô ấy cứ mãi không hồi âm thì sao?"

"Vậy thì cứ giữ lại nghi vấn, không ép cô ấy phải ra mặt để giải đáp cho chúng ta."

Duy Đình không nói thêm gì nữa.

Những năm gần đây làm công việc phục chế thủy tinh cổ và nhà thờ, anh đã quen coi những chỗ thiếu sót là những lỗ hổng cần phải lấp đầy. Chất liệu, niên đại, lớp phục chế, tác giả, mỗi ô trống đều phải có đáp án. Nhưng Di Quân lại coi cả việc "không phản hồi" là một sự lựa chọn, điều này khiến anh lần đầu tiên nhận ra rằng, dữ liệu phục chế và cuộc sống của con người không phải là một.

Chiều ngày thứ ba, họ chuyển mười ba tấm kính màu ra dưới ánh sáng tự nhiên để kiểm tra bọt khí và sự phong hóa bề mặt. Tấm D và E gần như chắc chắn là cùng một lô thủy tinh, nhưng trong danh mục kiểm kê của xưởng lại cách nhau bảy năm; thanh chì của tấm H từng được làm lại vào năm 2006, nhưng ảnh phục chế lại ghi là năm 2011; mặt sau tấm J có một đoạn chữ viết bằng bút dầu sớm, bị lớp sơn đá/nh số màu trắng sau này che khuất.

Duy Đình dùng máy ảnh hồng ngoại cố gắng nhận diện nét chữ ở lớp dưới, nhưng chỉ nhìn ra hai đường cong mờ nhạt.

"Đừng mài nữa," Di Quân nói.

"Tôi không định mài."

"Tay anh đã chạm vào tăm bông rồi kìa."

Duy Đình đặt dụng cụ xuống. "Chỉ muốn kiểm tra bề mặt thôi."

"Nó không phải là tấm thử nghiệm của chúng ta."

Anh bị chặn họng, không nói được gì.

Khi hai người đang giằng co, ngoài xưởng vang lên tiếng tắt máy xe máy. Một người đàn ông ngoài sáu mươi tuổi bước vào, đó là người thợ già đã nghỉ hưu nhiều năm, La Thế Xươ/ng. Di Quân đã gọi điện nhờ ông đến nhận diện các điểm hàn cũ từ hôm trước, nhưng không nói về tranh chấp tác giả, chỉ nói rằng trước khi đóng lò cần làm tư liệu kỹ thuật.

La Thế Xươ/ng đeo kính lão, nhìn tấm F chưa đầy nửa phút rồi nói: "Con chim này không phải do ông ngoại của cháu vẽ."

Không gian bỗng chốc tĩnh lặng.

Duy Đình hỏi: "Ông có nhớ là của ai không?"

Ông lão nhìn Di Quân một cái. "Các cháu thực sự muốn điều tra sao?"

Di Quân gật đầu. "Nhưng ông chỉ nói những gì ông chắc chắn nhớ, không chắc chắn thì cứ nói là không chắc."

La Thế Xươ/ng chậm rãi ngồi xuống. Ông kể, năm đó lớp học mùa hè của xưởng có nhận vài học sinh cấp ba, Lâm Bội Văn vẽ rất nhanh, thường biến những hình vẽ nhỏ trong tờ tin tức của nhà thờ thành những đường nét phù hợp để c/ắt kính. Chim bồ câu chính là do cô vẽ. Ông ngoại ban đầu chỉ để cô tập luyện, sau đó vì nhà thờ bổ sung gấp một tấm nên bản thảo của cô đã được chọn.

"Vậy tại sao danh sách lại ghi là ông ngoại?" Duy Đình hỏi.

La Thế Xươ/ng im lặng rất lâu.

"Gia đình cô ấy không biết cô ấy đến đây học," ông nói. "Bố cô ấy cảm thấy làm thủy tinh không có tương lai, lại sợ cô ấy giao du với đám thợ nam. Lúc đó cô ấy chưa thành niên, thầy Chu bảo tạm thời đừng ghi tên cô ấy, đợi khi nào cô ấy tự dám nói thì hãy hay."

Di Quân cau mày. "Vậy ra ban đầu là để bảo vệ cô ấy?"

"Lúc đó tôi nghe được là như vậy."

"Sau đó thì sao?" Duy Đình truy vấn.

Ông lão dời ánh mắt đi chỗ khác. "Sau đó nhiều bức tranh đều ghi tên thầy Chu. Tôi cũng không biết bức nào vốn là của ai vẽ. Danh tiếng xưởng lên cao, mọi người thấy ghi tên thầy thì dễ nhận đơn hàng hơn."

Câu nói đó khiến chú chim bồ câu trên bàn ánh sáng nghiêng bỗng chốc như nặng nề hơn rất nhiều.

Suy nghĩ đầu tiên của Duy Đình là viết ngay vào hồ sơ "Thiết kế gốc: Lâm Bội Văn", tay vừa chạm vào bút thì dừng lại.

"Ông La, đoạn ghi âm này chúng tôi sẽ tạm đá/nh dấu là chờ đương sự x/ác nhận. Ông có đồng ý cho chúng tôi lưu âm không?"

Ông lão hơi ngạc nhiên, rồi gật đầu.

Di Quân nhìn Duy Đình một cái, không nói gì.

Sau khi phỏng vấn kết thúc, hai người thu xếp việc ủy quyền ghi âm. Di Quân đột nhiên hỏi: "Anh trở nên chậm chạp như vậy là vì lần trước em m/ắng anh sao?"

"Một nửa."

"Nửa còn lại?"

Duy Đình nhìn vào tấm chim bồ câu. "Vì anh bắt đầu cảm thấy, phục chế không phải là điền tên vào ô trống. Mà có thể là phải hỏi người có cái tên đó xem họ còn muốn được điền vào nữa hay không."

Di Quân cúi đầu thu dây, giọng rất nhẹ. "Ba năm trước không phải em không muốn điều tra. Em chỉ sợ anh vừa viết ra, em sẽ không còn cơ hội nào để quyết định cách đối mặt với gia đình nữa."

Duy Đình sững người.

Đó là lần đầu tiên cô nói ra lý do thực sự.

Trước đây họ đều bao biện cho những tranh chấp bằng sự khác biệt trong phương pháp chuyên môn, không ai chịu thừa nhận rằng bên trong thực chất lẫn lộn cả nỗi sợ hãi: anh sợ truyền thống gia đình đ/è bẹp bằng chứng, cô sợ một khi bằng chứng được công khai, bản thân sẽ bị gia đình coi là kẻ phản bội.

Đúng lúc này, điện thoại công vụ sáng lên.

Bức thư chuyển cho Lâm Bội Văn đã có hồi âm.

Chỉ vỏn vẹn một câu: "Tôi sẵn sàng nói chuyện, nhưng đừng để bố tôi biết trước."

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Trước ngày nhà tắm công cộng cũ ở Cơ Long đóng cửa, ông cùng một cựu lính cứu hỏa đi tìm chín chiếc tủ đồ bị thay khóa.

Chương 9
Hứa Minh Tông, chủ tiệm tắm hơi 49 tuổi ở Cơ Long, dự định đóng cửa tiệm tắm hơi dành cho thủy thủ lâu đời mà cha anh để lại. Tuy nhiên, anh phát hiện ra các ổ khóa, sổ cho thuê, lịch trình tàu và thông báo thất lạc của chín chiếc tủ gửi đồ lâu năm có nhiều điểm mâu thuẫn. Trong đó, tủ số 38 thuộc về Trần Kiến Quốc, một kỹ sư máy mất tích sau vụ đắm tàu 17 năm trước. Để làm rõ những chuyện cũ, anh tìm đến Cao Chí Thành, một lính cứu hỏa đã nghỉ hưu, người từng tham gia cứu hộ năm xưa nhưng sau đó đã đoạn tuyệt với anh vì bất đồng quan điểm về vụ tai nạn. Dựa trên độ mòn của lõi khóa, vết giũa trên chìa khóa, ngày tháng trên vé tắm, danh sách thủy thủ, thời tiết tại cảng và nguyện vọng rõ ràng của gia đình, hai người đối chiếu từng chiếc tủ một, kiên quyết không mở tủ nếu không được ủy quyền, cũng không biến di vật của vụ đắm tàu thành bí mật kinh doanh khi đóng cửa tiệm. Cuộc điều tra phát hiện ra rằng, ban đầu cha của Minh Tông đã thay khóa để giấu giấy tờ nhằm bảo vệ một thủy thủ nước ngoài đang bị đòi nợ, nhưng ngoại lệ mang tính bảo vệ này sau đó bị nhân viên lợi dụng để chiếm dụng các tủ quá hạn và che đậy việc thiếu hụt tiền mặt. Minh Tông cũng thừa nhận mình từng vì tin cha mà từ chối cho gia đình nạn nhân tra cứu, còn Chí Thành thú nhận năm xưa vì muốn bảo vệ danh tiếng của đội cứu hộ nên đã bỏ qua việc xác nhận liên lạc dẫn đến chậm trễ. Giữa chừng, lò hơi cũ bị cháy ngược và có mùi gas, hai người lập tức khóa van tổng, sơ tán rồi báo cho lực lượng cứu hỏa và kỹ thuật viên có chuyên môn, từ chối quay lại phòng máy dưới tầng hầm để lấy bằng chứng. Cuối cùng, vào ngày trả lại đồ theo đợt, chín chiếc tủ gửi đồ đã được hoàn tất việc thu hồi, tiêu hủy, quyên góp, bảo quản có thời hạn hoặc kết thúc hợp pháp tùy theo lựa chọn của người thuê hoặc gia đình. Tủ số 38 chỉ được mở dưới sự ủy quyền của gia đình và sự chứng kiến của thợ khóa bên thứ ba, còn những tư liệu về vụ đắm tàu không được phép mở đều được niêm phong. Hai người đàn ông không dùng một lời xin lỗi để hàn gắn tình bạn cũ, mà bắt đầu bằng việc cho phép đối phương nghi ngờ, giải thích lý do giữ im lặng và không còn che giấu cho nhau nữa, từ đó xây dựng lại một tình bạn trưởng thành có chừng mực.
0