Một tuần trước buổi bàn giao, bảng quá trình hình thành của mười ba tấm kính màu cuối cùng cũng ra được phiên bản đầu tiên.
Duy Đình cố ý không dùng cụm từ "tác giả chính x/ác" làm tiêu đề cột, mà chia thành: Bố cục gốc, Nguồn gốc vật liệu, Tham gia chế tác, Phục chế sau này, Ghi tên hiện tại và Hạn chế công khai. Nhờ vậy, mười ba tấm kính vốn trông có vẻ hỗn lo/ạn dần trở nên rõ ràng: Thiết kế tấm chim bồ câu F thuộc về Lâm Bội Văn, ông ngoại phụ trách điều chỉnh phân chia và chỉ đạo chế tác; hoa tròn trung tâm tấm J có thể xuất phát từ Bội Văn, vòng ngoài do Trần Mỹ Tuyết phối màu chế tác; còn tấm H là do Trần Tú Chi cung cấp kính cũ của gia tộc và ý tưởng chủ đề, ông ngoại hoàn thiện thiết kế lắp ghép.
Vẫn còn hai tấm không thể x/ác nhận người thiết kế ban đầu, cả hai trung thực đá/nh dấu là "Tác giả chưa x/ác nhận", không còn cố lấp đầy bằng một cái tên cho tiện nữa.
Tiếp theo là phần bồi thường.
Di Quân lật lại hồ sơ tiền lương và phí thiết kế qua các năm, đưa ra một nguyên tắc: Phàm là những đóng góp về thiết kế hoặc phối màu có tính sáng tạo, nhưng từng bị xưởng thống nhất đứng tên mà không nhận được th/ù lao tương ứng, xưởng sẽ đưa ra khoản bồi thường riêng; việc bồi thường và việc công khai tên tuổi được xử lý tách biệt, không dùng tiền để đổi lấy quyền ghi tên, cũng không coi việc nhận bồi thường là từ bỏ quyền phản đối.
"Chắc chắn sẽ có người trong nhà nói đây là tự tìm rắc rối," Duy Đình nói.
"Vậy thì cứ để họ nói," Di Quân tắt bảng tính, "Nhưng số tiền không thể do hai chúng ta đóng cửa quyết định. Bội Văn và Mỹ Tuyết phải xem căn cứ trước đã."
Sau khi nhận được phương án bồi thường, Lâm Bội Văn không chấp nhận ngay. Cô hỏi trước: "Nếu tôi nhận số tiền này, liệu có ai nói rằng tôi thừa nhận năm đó đã có thỏa thuận không?"
Duy Đình trả lời: "Không. Văn bản sẽ ghi rõ đây là khoản bù đắp cho việc sử dụng tên tuổi mà không được x/ác nhận sau này, không thay đổi lời khai của cô về tình trạng ban đầu."
Cuối cùng cô chọn nhận bồi thường cho thiết kế chim bồ câu, nhưng từ chối tấm J, lý do là cô chỉ chắc chắn tám phần về bông hoa tròn trung tâm. Xưởng vì thế giữ tấm J ở trạng thái "Nguồn gốc liên quan cao, chưa đạt đến mức x/ác nhận hoàn toàn của đương sự", không vì muốn trả tiền mà ép buộc định đoạt tác giả.
Trần Mỹ Tuyết thì nhận bồi thường cho phần phối màu và chế tác tấm L, riêng vòng ngoài tấm J bà chỉ yêu cầu đính chính hồ sơ, không nhận thêm phí. "Năm đó phần tính tiền theo sản phẩm tôi đã nhận rồi," bà nói, "Tôi chỉ cần đừng viết thành tôi không làm là được."
Di Quân ghi chép lại từng mục.
Phía nhà thờ cũng đưa ra lựa chọn. Trần Bách Huân mang đến nghị quyết của hội đồng chấp sự: bảng hướng dẫn tại hiện trường không còn gọi chung mười ba tấm là "Loạt tác phẩm Chu Thanh Hà" nữa, mà đổi thành "Nhóm kính màu qua các năm và phục chế", mỗi tấm ghi tên theo ủy quyền; những tấm liên quan đến ẩn danh và hạn chế trưng bày chỉ công khai thông tin được cho phép. Sách hướng dẫn cũ không bị tiêu hủy mà giữ lại một bản trong hồ sơ nhà thờ, đá/nh dấu là tài liệu lịch sử đã được đính chính phiên bản.
"Giữ lại thứ sai, chẳng phải sẽ khiến người ta hiểu lầm sao?" Di Quân hỏi.
"Cho nên mới cần để lại lời giải thích đính chính," Duy Đình nói, "Nếu vứt bỏ hết sách cũ, ngược lại sẽ không thấy được sai sót đã hình thành thế nào."
Cô suy nghĩ một chút rồi gật đầu. "Vậy danh mục cũ của xưởng cũng vậy, không bôi xóa hồ sơ gốc, mà thêm lớp đính chính."
Cả hai quyết định mọi tệp kỹ thuật số đều áp dụng lưu vết phiên bản: tệp quét gốc được lưu dưới dạng chỉ đọc, dữ liệu mới lập phiên bản riêng, bất kỳ đính chính nào cũng ghi ngày tháng, căn cứ và phạm vi đạt được sự đồng ý. Bản giấy thì không x/é nhãn, không đ/è lên mã cũ, mà dùng bìa rời và bảng chỉ mục để kết nối với quá trình hình thành mới.
Những việc làm này trông có vẻ rườm rà, nhưng lại khiến Di Quân lần đầu tiên cảm thấy mình không phải đang phá bỏ lịch sử của xưởng.
Cô đang tách rời những người từng bị nhét chung vào một cái tên.
Đêm đó, Duy Đình chuẩn bị về Đài Bắc lấy thiết bị cho buổi bàn giao, Di Quân tiễn anh đến ga tàu cao tốc Tân Trúc. Khi xe đỗ ở khu vực dừng tạm, cô đột nhiên gọi anh lại.
"Bản báo cáo ba năm trước đó, anh thực sự sẽ nói tại buổi bàn giao sao?"
"Sẽ."
"Anh có thể chỉ viết trong tài liệu, không nhất thiết phải nói trước đám đông."
Duy Đình nhìn cô. "Nếu em muốn công khai trách nhiệm đ/è nén sự phản đối của mình, anh không có lý do gì để giấu lỗi của mình trong phụ lục cả."
Di Quân im lặng.
"Anh không phải là đi chịu ph/ạt cùng em," anh bổ sung, "Mà là báo cáo đó vốn dĩ anh phải chịu trách nhiệm."
Thần sắc của cô dần thả lỏng.
"Trước đây anh rất thích nói 'Để anh xử lý giúp em'."
"Giờ anh còn nói vậy không?"
"Ít hơn rồi."
"Tiến bộ nhiều đấy."
"Vẫn còn ít lắm."
Cả hai đều cười.
Trước khi Duy Đình xuống xe, Di Quân đưa cho anh một quy trình bàn giao. Trang cuối cùng không phải là lời phát biểu của gia đình, mà là "Giải thích lựa chọn quyền lợi của tác giả và bên ủy thác".
Anh đọc xong, hỏi: "Đây là em sắp xếp à?"
"Ừ."
"Không có tiếng chuông đóng lò, cũng không có video kỷ niệm ông ngoại sao?"
"Xong xuôi những gì cần bàn giao trước đã," Di Quân nói, "Xưởng có được nhớ đến hay không, không nên ưu tiên hơn việc tác phẩm là của ai."
Khi Duy Đình đóng cửa xe, lần đầu tiên anh cảm thấy buổi đóng lò này không còn chỉ là sự kết thúc.
Họ đang quyết định xem, thứ gì có thể mang đến địa điểm mới, và thói quen nào bắt buộc phải để lại nơi này.