Ngày công văn bãi bỏ trạm canh gác được dán lên tường, Trần Khải Văn lái xe từ trung tâm thành phố Mã Công đến b/án đảo Phong Quỹ, gió biển thổi phần phật vào dây mũ bảo hiểm. Trạm thủy triều cũ chỉ còn hai tháng nữa là kết thúc việc trực thủ công, sau này sẽ chuyển sang truyền dữ liệu bằng cảm biến từ xa. Lớp sơn trắng trên tường ngoài trạm bị muối biển ăn mòn đến bong tróc, bên cửa treo một chiếc phao c/ứu sinh đã bạc màu. Hồi nhỏ, anh thường theo cha đến đây tìm người chị họ Trần Ngọc Phương, lúc ấy chị vẫn là người đọc mây giỏi nhất.
Hiện tại, Ngọc Phương, năm mươi mốt tuổi, đứng trong phòng dữ liệu, chỉ ngước mắt nhìn anh một giây rồi đặt xâu chìa khóa lên bàn. "Cậu phụ trách bàn giao công trình, tôi phụ trách sổ quan trắc. Đừng ai giúp ai cho rảnh việc."
Khải Văn hiểu thấu khoảng cách mười năm trong câu nói đó. Năm xưa anh rời Bành Hồ đến đảo chính làm công trình ven biển, từng trích dẫn dữ liệu của tổng trạm trong một bản đá/nh giá đê chắn sóng, nhưng lại xóa đi phần chú thích nghi vấn mà Ngọc Phương gửi cho anh. Sau đó, khi địa phương mở cuộc họp chất vấn, anh chỉ nói là làm theo hồ sơ chính thức, từ đó hai người gần như không còn qua lại.
Họ bắt đầu kiểm kê mười hai cuốn sổ quan trắc tình trạng biển chuẩn bị gửi đi lưu trữ tại chính quyền huyện. Ngay cuốn đầu tiên đã có vấn đề. Trang bìa ghi năm Dân quốc 109, nhưng giấy bên trong lại có hai loại sợi, một loại hơi vàng, một loại hơi trắng; sau trang số 287, lực bút đột ngột thay đổi từ nặng bên phải nhẹ bên trái sang nét mảnh đều. Ngọc Phương đặt cuốn sổ dưới ánh sáng xiên, chỉ vào lỗ đóng gáy: "Bốn trang này đã bị thay thế sau đó."
Khải Văn nhập ngày tháng tương ứng vào bản sao lưu của cảm biến gốc. Đêm đó mực nước biển dâng bất thường 22 cm, nhưng sổ quan trắc lại ghi là "d/ao động bình thường". Kỳ lạ hơn nữa là thời gian phát tin cảnh báo bão sớm hơn bốn mươi phút so với thời gian viết tay trên sổ. Nếu chỉ là lỗi chép nhầm, thì không thể đến cả đường cong mực nước cũng bị sửa cho phẳng đi.
Cuốn thứ hai, thứ ba cũng có vấn đề tương tự. Có trang số khớp nhau nhưng sợi giấy lại khác; có nét chữ nhìn như của cùng một người, nhưng vết hằn lại cho thấy trang gốc từng bị x/é ra rồi chèn lại; một cuốn khác thậm chí còn để lại vết lõm sau khi tẩy bút chì, có thể thấy rõ trước đó từng viết "nước thấm qua đê chắn sóng khu nuôi trồng phía Nam".
"Trước đây cậu từng thấy những thứ này chưa?" Ngọc Phương hỏi.
Khải Văn không trả lời ngay. Anh nhớ lại bản báo cáo bên ngoài mười năm trước, trong phần phụ lục quả thực có một tờ giấy ghi chú của nhân viên quan trắc địa phương, nhắc nhở rằng dữ liệu không khớp với tình trạng biển thực tế. Lúc đó vì đang vội nộp hồ sơ, anh đã coi tờ ghi chú đó là "chưa x/ác nhận" và không đưa vào văn bản chính.
"Từng thấy những nghi vấn tương tự," cuối cùng anh nói, "nhưng tôi không truy c/ứu."
Khuôn mặt Ngọc Phương không có thay đổi rõ rệt, chỉ lồng cuốn sổ đầu tiên vào túi đựng tài liệu không axit. "Vậy thì bắt đầu từ chỗ cậu đã không truy c/ứu đi."
Họ thỏa thuận không coi bất kỳ trang nào là bằng chứng cáo buộc trực tiếp. Mỗi cuốn sổ đều phải đối chiếu với cảm biến gốc, dữ liệu khí tượng trung ương, liên lạc vô tuyến, lời kể của ngư dân và hồ sơ công trình; những vấn đề liên quan đến gia đình và tình trạng sức khỏe cá nhân chỉ được sử dụng trong phạm vi được người đó đồng ý. Ngọc Phương còn thêm một điều khoản: bất kỳ người được phỏng vấn nào cũng có thể rút lại lời khai trước khi công khai.
Khi hoàng hôn buông xuống, Khải Văn tìm thấy một tấm thẻ giấy đã bị hơi muối làm giòn ở tầng dưới cùng của tủ cũ, trên đó chỉ có mười hai ngày tháng và mười hai chấm tròn đỏ. Ngọc Phương nhìn thấy tấm thẻ, im lặng rất lâu. "Đây là ký hiệu của cựu quản lý Vương Thanh Lộc. Mỗi lần ông ta yêu cầu chép lại, ông ta sẽ chấm một chấm đỏ lên bìa ngoài của sổ thủy triều."
Gió biển tràn vào từ khe cửa, làm lật những trang sổ trên bàn. Khải Văn lần đầu tiên nhận ra, mười hai cuốn sổ quan trắc bị thay trang này có lẽ không phải là những lỗi lẻ tẻ, mà là một phương thức xử lý đã trở thành thói quen của ai đó.
Họ không liệt kê tấm thẻ chấm đỏ thành bằng chứng chỉ đạo của cấp trên ngay lập tức, mà trước tiên kiểm tra xem ngày tháng trên thẻ có thực sự khớp với việc thay trang hay không. Khải Văn nhập mười hai ngày tháng vào máy tính, Ngọc Phương tìm lịch trực cùng năm đó từ kho lưu trữ. Trong mười hai chấm đỏ, có chín chấm trùng khớp hoàn toàn với các trang bất thường, hai chấm chỉ khớp với ngày hiệu chỉnh thiết bị, một chấm còn lại không tìm thấy bất kỳ dấu vết thay trang nào. Điều này khiến họ càng thận trọng hơn: chấm đỏ rất có thể là ký hiệu công việc của Vương Thanh Lộc, nhưng mục đích sử dụng không chỉ có một. Ngọc Phương chủ động thêm vào bên cạnh ghi chép dòng chữ "không được suy đoán nguyên nhân thay trang một cách đơn phương". Khải Văn nhìn dòng chữ đó, nhớ lại trước đây mình thường viết sự tương quan giống như qu/an h/ệ nhân quả, trong lòng cảm thấy hơi nóng ran.
Chiều tối, người phụ trách bãi bỏ trạm gửi tin nhắn hỏi tiến độ kiểm kê, còn nhắc nhở thời hạn lưu trữ chỉ còn sáu tuần. Khải Văn vốn đã quen trả lời bằng một con số phần trăm hoàn thành, nhưng lần này anh viết: "Mười hai cuốn cần đối chiếu từng cuốn một, tạm thời không vì thời hạn mà gây áp lực cho người được phỏng vấn." Ngọc Phương nhìn thấy không khen ngợi, chỉ đưa danh sách liên lạc của mình cho anh, nói rằng có ba hộ ngư dân cô sẵn lòng đi hỏi trước xem họ có muốn trò chuyện không. Khoảnh khắc đó, sự hợp tác của hai người lần đầu tiên không phải là ai quyết định thay cho ai, mà là mỗi người đặt những gì mình có thể làm lên bàn.
Trước khi tắt đèn, Ngọc Phương chụp ảnh lưu lại thứ tự sắp xếp ban đầu của mười hai cuốn sổ, đồng thời yêu cầu Khải Văn không được tháo gáy sổ trước. Cô nói, ngay cả bụi trên gáy sách và vết hằn cũng có thể chứng minh cuốn sổ đã được di chuyển khi nào. Khải Văn đồng ý thực hiện kiểm tra không phá hủy trước, điều này cũng giúp hai người x/ác lập nguyên tắc làm việc đầu tiên sau này: trước khi biết mình đang tìm ki/ếm điều gì, sẽ không vì sự tiện lợi mà làm thay đổi trạng thái của vật chứng.