Sáng hôm sau, Ngọc Phương chia mười hai cuốn sổ quan trắc thành ba nhóm: giấy tờ bất thường, đường cong thủy triều bất thường và thời gian báo động bất thường. Khải Văn tìm thấy số sê-ri của máy đo mực nước kiểu áp suất cũ trong danh mục thiết bị bãi bỏ trạm, rồi đối chiếu từng cái một với các tệp gốc trong ổ cứng. Bộ cảm biến đó tuy cũ nhưng có một ưu điểm là mỗi lần hiệu chỉnh lại đều để lại dấu thời gian, rất khó xóa sạch hoàn toàn sau này.
Sự bất thường đầu tiên được đối chiếu xảy ra vào cuối hè tám năm trước. Sổ quan trắc ghi "sóng cao tăng nhẹ" lúc 3 giờ 18 phút sáng, nhưng cảm biến lại bắt đầu vượt quá vạch cảnh báo liên tục từ 3 giờ 09 phút. Quan trọng hơn, hồ sơ vô tuyến của lực lượng tuần tra biển cho thấy lúc 3 giờ 12 phút đã có người báo cáo về việc giàn bè nuôi trồng ngoài khơi Thái Viên bị tuột neo. Nếu lúc đó trạm quan trắc thực sự không thấy bất thường thì đã không trả lời "đã rõ" vào lúc 3 giờ 15 phút.
Ngọc Phương lật lại bảng trực ban năm đó, tên người trực là nhân viên quan trắc đã nghỉ hưu Hứa Khôn Hải. Cô nhìn chằm chằm vào dòng chữ đó rất lâu, cuối cùng nói: "Sức khỏe ông ấy hiện không tốt, đừng tìm trực tiếp vội."
Khải Văn hỏi: "Sợ ông ấy không muốn?"
"Không phải sợ, mà là hỏi trước xem ông ấy sẵn lòng nói bao nhiêu." Ngọc Phương ngước nhìn anh, "Trước đây cậu luôn đặt bốn chữ 'lợi ích công cộng' lên hàng đầu. Nhưng b/ệnh tật của người khác, chuyện gia đình họ, không phải cứ vì chúng ta muốn tìm sự thật mà tự động trở thành dữ liệu công cộng."
Khải Văn bị cô nói đến mức không thể phản bác. Anh thừa nhận khi làm công trình ở đảo chính, anh quen với việc đảm bảo dữ liệu đầy đủ trước rồi mới xử lý cảm xúc con người; sau khi trở về hòn đảo này, anh mới dần hiểu ra rằng đầy đủ không có nghĩa là có thể không hỏi.
Họ liên lạc với con gái của Hứa Khôn Hải trước, chuyển lời rằng chỉ muốn đối chiếu quy trình trực ban và ghi chép năm đó, không hỏi về nguyên nhân b/ệnh tật, cũng không yêu cầu ông phải xuất hiện. Chiều hôm sau, Hứa Khôn Hải truyền qua con gái một câu: "Có thể nói về công việc, không nói về sức khỏe." Ngọc Phương viết câu này lên trên cùng của bảng ủy quyền và ghi chú đặc biệt: dữ liệu công khai không được suy đoán về tình trạng sức khỏe của ông.
Cùng chiều hôm đó, một hộ nuôi trồng tên Trần Thụy Minh đến trạm. Anh mang theo tấm ảnh chụp bằng điện thoại năm đó, trong ảnh đã thấy sóng trắng tràn vào giữa các khối chắn sóng ngoài khơi Thái Viên, thời gian sớm hơn nửa giờ so với "thời điểm bắt đầu bất thường" ghi trong sổ quan trắc. Thụy Minh sẵn lòng đứng tên, nhưng vợ anh không muốn nhắc lại chuyện đêm đó phải thu lưới và bị thương nữa. Khải Văn chỉ ghi lại tình trạng biển mà chính Thụy Minh nhìn thấy, hoàn toàn không viết về thương tích.
"Chẳng phải trước đây các người đều nói sổ của trạm quan trắc là chính x/ác nhất sao?" Thụy Minh hỏi.
Ngọc Phương cụp mắt. "Trước đây tôi cũng tin như vậy."
Khải Văn không trả lời thay cô. Anh chỉ đặt đường cong cảm biến cạnh thời gian chụp ảnh, giải thích rằng sẽ tìm bên thứ ba để x/ác nhận lại.
Chiều tối, họ phát hiện sự bất thường ở cuốn sổ thứ hai còn tinh vi hơn. Giấy sau khi thay tuy cùng hãng sản xuất nhưng hướng sợi giấy lại ngược; còn những vết ố nước muối đáng lẽ phải có thì chỉ dừng ở mép đóng gáy, chứng tỏ những trang này được bổ sung sau khi sự kiện đã xảy ra. Khải Văn dùng ánh sáng xiên nhìn thấy vết hằn bút chì, cố gắng nhận ra mấy chữ "vết nứt ở cuối đê chắn sóng".
Ngọc Phương bất chợt nói: "Năm đó nhà thầu vừa làm xong việc gia cố."
Khải Văn lật hồ sơ công trình, quả nhiên phát hiện trong cùng tuần đó có một khoản thanh toán nghiệm thu. Nếu hồ sơ bất thường bị sửa cho phẳng đi, thì lỗi của nhà thầu sẽ không bị truy vấn ngay lúc đó.
Hai người nhìn nhau, không ai viết suy đoán vào kết luận. Ngọc Phương chỉ thêm một cột mới trên bảng trắng: Công trình nhà thầu cần kiểm tra. Khải Văn thì tìm ra báo cáo cũ của mình, lần đầu tiên viết vào lề trang: "Nghi vấn địa phương chưa truy c/ứu năm đó". Đó không phải là câu tự trách, mà là anh bắt đầu sẵn lòng để lại bằng chứng cho thấy chính mình cũng có thể đã bỏ lỡ sự thật.
Khải Văn lại lấy hồ sơ bảo trì cảm biến năm đó ra, x/ác nhận trong khoảng thời gian đó không có việc hiệu chỉnh lại hay hỏng pin. Nhà cung cấp dữ liệu bên thứ ba cũng trả lời rằng mã kiểm tra của tệp gốc khớp với bản sao lưu, không có dấu hiệu bị ghi đ/è sau này. Điều này khiến khả năng "sai số cảm biến" giảm mạnh, ngược lại khiến việc thay đổi sổ viết tay càng đáng truy vấn hơn. Ngọc Phương yêu cầu đưa cả phản hồi kỹ thuật này vào phần phụ lục phiên bản, nhưng không viết thành "làm giả nhân tạo" trong bản tóm tắt công khai, vì người thay trang và động cơ vẫn chưa được x/ác định.
Trước bữa tối, Khải Văn ra biển m/ua cơm hộp, lúc về tiện thể m/ua cho Ngọc Phương món sữa đậu nành không đường mà cô từng thích uống. Sau khi đặt lên bàn, anh mới đột nhiên nhận ra mình chưa hỏi trước. Ngọc Phương nhìn thoáng qua rồi không cầm lấy. "Hôm nay tôi không muốn uống." Khải Văn sững người nửa giây, cất sữa đậu nành vào tủ lạnh, nói lần sau sẽ hỏi trước. Chuyện nhỏ đến mức gần như nực cười, nhưng lại khiến cả hai im lặng một lúc. Hóa ra ranh giới họ cần tu sửa không chỉ nằm trong công văn và bảng ủy quyền, mà còn nằm trong những thói quen tưởng chừng đã hiểu rõ về nhau suốt bao năm qua.
Cùng lúc đó, hai người để cho tệp gốc của điện thoại và bản sao lưu trên đám mây cùng x/ác nhận thời gian chụp ảnh của Thụy Minh, tránh việc chỉ dựa vào thời gian hiển thị trên màn hình để phán đoán. Kết quả cả hai bên trùng khớp, tấm ảnh mới được liệt kê là bằng chứng có thể kiểm chứng. Khải Văn viết quy trình này vào danh sách, tự nhắc nhở bản thân rằng dù lời khai ở nơi quen thuộc đến đâu, cũng phải đối chiếu với dữ liệu kỹ thuật.