Cơn mưa mùa đông ở cảng Cơ Long dường như thổi thẳng từ biển vào thành phố. Khi Hứa Minh Tông ấn tấm biển "Ngừng kinh doanh cuối tháng" cuối cùng vào mặt trong cửa kính của nhà tắm, nước mưa đang chảy thành một đường mảnh dọc theo mái hiên sắt. "Nhà tắm thuyền viên Hải Long" do cha anh để lại đã mở cửa hơn bốn mươi năm, những năm trước, mỗi khi tàu viễn dương cập cảng, thuyền viên vừa xuống tàu là kéo hành lý tới tắm nước nóng, cạo râu, nhét giấy tờ và quần áo vào tủ gửi đồ. Ngày nay, đội tàu cải tổ, an ninh bến cảng nghiêm ngặt, nhà tắm cũ chỉ còn vài thuyền viên nghỉ hưu và công nhân cảng thỉnh thoảng ghé tắm, Minh Tông cuối cùng quyết định đóng cửa vào cuối tháng.

Người đàn ông 49 tuổi này vốn tưởng rằng việc khó nhất khi ngừng kinh doanh là nồi hơi, sổ sách và hợp đồng thuê, không ngờ thứ thực sự làm anh bế tắc lại là dãy tủ gỗ gửi đồ trong cùng của phòng thay đồ nam.

Nhà tắm có tổng cộng 46 ngăn tủ cũ, phần lớn đã được dọn trống. Chỉ còn 9 ngăn vẫn treo những chiếc khóa từ các thời kỳ khác nhau, bên cạnh cửa tủ dán những tấm biển số đã phai màu. Minh Tông lấy sổ cho thuê do cha để lại ra đối chiếu từng cái một, càng xem càng thấy không đúng: ngăn số 13 ghi là thuê ngắn hạn 3 tháng, nhưng lõi khóa lại là loại mới ra mắt 10 năm trước; mã số chìa khóa của ngăn số 21 hoàn toàn khác với sổ cho thuê; ngăn số 33 từng có hai thông báo thất lạc, nhưng người thông báo không phải là thuyền viên ghi trong sổ. Kỳ lạ hơn là, bề mặt lõi khóa của 5 trong số 9 ngăn này bị mài mòn hơn nhiều so với cửa tủ, như thể có người đã thay khóa sau khi tủ bị bỏ trống nhiều năm.

Anh vốn định gọi thợ khóa đến mở ngay, tay đã chạm vào điện thoại nhưng lại khựng lại. Khi còn sống, cha anh thường nói: "Tủ của thuyền viên không phải tủ gửi đồ ở khách sạn, bên trong đó có mạng người." Minh Tông trước đây chê câu này quá kịch tính, giờ đây đối mặt với 9 ngăn tủ không người nhận, lần đầu tiên anh cảm thấy không thể vì lý do ngừng kinh doanh mà muốn mở là mở.

Anh trải sổ cho thuê, cuống vé tắm và thông báo thất lạc lên quầy, trước tiên lập bảng theo số thứ tự. Khi tra đến ngăn số 38, toàn thân anh cứng đờ. Cột người thuê ghi "Trần Kiến Quốc, thợ máy", ngày sử dụng vé tắm cuối cùng là ngày 12 tháng 11, mười bảy năm trước; sáng hôm sau, một con tàu làm việc gần bờ gặp thời tiết x/ấu ngoài khơi đảo Bành Giai và mất liên lạc, Trần Kiến Quốc nằm trong danh sách thuyền viên. Công tác c/ứu hộ sau đó tìm thấy một số vật trôi dạt, nhưng không tìm thấy người.

Ngăn tủ này sau đó từng được cha anh liệt vào mục "Chờ gia đình x/ác nhận", nhưng hai năm sau trong sổ cho thuê lại có thêm một dòng: "Khóa đã thay, không được động vào." Nét chữ không phải của cha anh, mà giống nét chữ của A Khôn, nhân viên cũ của nhà tắm thời đó. Minh Tông nhìn chằm chằm vào bốn chữ đó, sống lưng lạnh toát.

Vụ đắm tàu mười bảy năm trước cũng là khởi điểm khiến anh và Cao Chí Thành hoàn toàn trở mặt. Chí Thành lúc đó là đội trưởng đội c/ứu hộ dưới nước của Sở C/ứu hỏa thành phố Cơ Long, tham gia tìm ki/ếm c/ứu nạn chung tại khu vực cảng. Sau vụ đắm tàu, gia đình họ Trần từng đến nhà tắm hỏi về ngăn số 38, Minh Tông làm theo lời cha trả lời "trong tủ không có di vật nào có thể x/ác nhận", từ chối cho gia đình kiểm tra. Sau này Chí Thành nói riêng với anh rằng, liên lạc c/ứu hộ có một đoạn bị trì hoãn, nếu gia đình họ Trần muốn truy c/ứu, nhà tắm có lẽ có thể cung cấp thời gian ra vào cuối cùng của thuyền viên. Minh Tông lại cho rằng Chí Thành đang lợi dụng nhà tắm để chuyển trách nhiệm cho đội c/ứu hộ, hai người cãi nhau một trận lớn, từ đó không liên lạc nữa.

Giờ đây, ngăn tủ đó lại xuất hiện trước mặt anh.

Anh lật tung các hồ sơ cũ, tìm thấy bản sao danh sách thuyền viên năm đó, bản fax khí tượng và một tấm danh thiếp của Chí Thành. Góc danh thiếp đã ố vàng, không biết số điện thoại trên đó còn dùng được không. Minh Tông nhìn rất lâu, cuối cùng vẫn gọi đi.

Chuông điện thoại reo đến hồi thứ năm mới có người bắt máy. Đối phương im lặng hai giây rồi mới nói: "Ai đấy?"

"Hứa Minh Tông."

Đầu dây bên kia cũng yên lặng vài giây. "Tôi có nghe nói nhà tắm của cha anh sắp đóng cửa."

"Tôi tìm thấy ngăn số 38. Của Trần Kiến Quốc."

Hơi thở của Chí Thành rõ ràng khựng lại một nhịp. "Anh mở rồi à?"

"Chưa. Tôi không định tự ý mở." Minh Tông đ/è giọng xuống, "Nhưng khóa đã bị thay, sổ cho thuê cũng không đúng. Tôi cần đối chiếu thời gian c/ứu hộ và danh sách thuyền viên năm đó."

Đầu dây bên kia truyền đến một tiếng thở dài rất khẽ. "Cuối cùng anh cũng nghĩ đến việc không chỉ tin lời cha mình nữa rồi sao?"

Câu nói này lập tức khơi dậy cơn gi/ận từ mười bảy năm trước. Minh Tông nắm ch/ặt điện thoại, suýt nữa thì cúp máy, cuối cùng vẫn nhịn xuống. "Anh muốn đến thì đến. Không đến thì tôi tìm người khác tra dữ liệu."

Chí Thành im lặng một lúc rồi đáp: "Chiều mai. Tôi nói rõ trước, tủ chưa có sự ủy quyền của gia đình thì tôi cũng sẽ không chạm vào."

Minh Tông nhìn dãy 9 cánh cửa tủ đang khóa trong phòng thay đồ, khẽ nói: "Ít nhất điểm này thì giống nhau."

Sau khi cúp điện thoại, trong nhà tắm chỉ còn tiếng ầm ì vọng lại từ xa của nồi hơi. Minh Tông dán niêm phong mới lên ngăn số 38, trên đó chỉ viết số thứ tự và "Chờ người có quyền x/ác nhận", không viết vụ đắm tàu, không viết tên người mất tích. Việc ngừng kinh doanh vốn chỉ còn 20 ngày, nhưng 9 ngăn tủ cũ lại giống như 9 câu hỏi gửi đến từ quá khứ, khiến anh lần đầu tiên hiểu ra, việc khó nhất trước khi đóng cửa không phải là dọn sạch mọi thứ, mà là x/ác định được điều gì vốn dĩ không nên do anh quyết định.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Trước ngày nhà tắm công cộng cũ ở Cơ Long đóng cửa, ông cùng một cựu lính cứu hỏa đi tìm chín chiếc tủ đồ bị thay khóa.

Chương 9
Hứa Minh Tông, chủ tiệm tắm hơi 49 tuổi ở Cơ Long, dự định đóng cửa tiệm tắm hơi dành cho thủy thủ lâu đời mà cha anh để lại. Tuy nhiên, anh phát hiện ra các ổ khóa, sổ cho thuê, lịch trình tàu và thông báo thất lạc của chín chiếc tủ gửi đồ lâu năm có nhiều điểm mâu thuẫn. Trong đó, tủ số 38 thuộc về Trần Kiến Quốc, một kỹ sư máy mất tích sau vụ đắm tàu 17 năm trước. Để làm rõ những chuyện cũ, anh tìm đến Cao Chí Thành, một lính cứu hỏa đã nghỉ hưu, người từng tham gia cứu hộ năm xưa nhưng sau đó đã đoạn tuyệt với anh vì bất đồng quan điểm về vụ tai nạn. Dựa trên độ mòn của lõi khóa, vết giũa trên chìa khóa, ngày tháng trên vé tắm, danh sách thủy thủ, thời tiết tại cảng và nguyện vọng rõ ràng của gia đình, hai người đối chiếu từng chiếc tủ một, kiên quyết không mở tủ nếu không được ủy quyền, cũng không biến di vật của vụ đắm tàu thành bí mật kinh doanh khi đóng cửa tiệm. Cuộc điều tra phát hiện ra rằng, ban đầu cha của Minh Tông đã thay khóa để giấu giấy tờ nhằm bảo vệ một thủy thủ nước ngoài đang bị đòi nợ, nhưng ngoại lệ mang tính bảo vệ này sau đó bị nhân viên lợi dụng để chiếm dụng các tủ quá hạn và che đậy việc thiếu hụt tiền mặt. Minh Tông cũng thừa nhận mình từng vì tin cha mà từ chối cho gia đình nạn nhân tra cứu, còn Chí Thành thú nhận năm xưa vì muốn bảo vệ danh tiếng của đội cứu hộ nên đã bỏ qua việc xác nhận liên lạc dẫn đến chậm trễ. Giữa chừng, lò hơi cũ bị cháy ngược và có mùi gas, hai người lập tức khóa van tổng, sơ tán rồi báo cho lực lượng cứu hỏa và kỹ thuật viên có chuyên môn, từ chối quay lại phòng máy dưới tầng hầm để lấy bằng chứng. Cuối cùng, vào ngày trả lại đồ theo đợt, chín chiếc tủ gửi đồ đã được hoàn tất việc thu hồi, tiêu hủy, quyên góp, bảo quản có thời hạn hoặc kết thúc hợp pháp tùy theo lựa chọn của người thuê hoặc gia đình. Tủ số 38 chỉ được mở dưới sự ủy quyền của gia đình và sự chứng kiến của thợ khóa bên thứ ba, còn những tư liệu về vụ đắm tàu không được phép mở đều được niêm phong. Hai người đàn ông không dùng một lời xin lỗi để hàn gắn tình bạn cũ, mà bắt đầu bằng việc cho phép đối phương nghi ngờ, giải thích lý do giữ im lặng và không còn che giấu cho nhau nữa, từ đó xây dựng lại một tình bạn trưởng thành có chừng mực.
0