Sáng hôm sau, họ mang mười hộp băng đến một studio nhỏ ở quận Trung Sơn chuyên phục chế hình ảnh analog. Kỹ thuật viên Quách Bội Linh giải thích trước rằng, băng từ có thể nhìn thấy dấu vết ghi đ/è và vị trí nối băng, nhưng không thể chỉ dựa vào một dải tín hiệu từ tính mà kết luận ai là người đã nhúng tay vào; nếu muốn lưu giữ bằng chứng, tốt nhất là nên thực hiện chuyển đổi kỹ thuật số dạng chỉ đọc (read-only), sau đó mới đối chiếu từng điểm nghi vấn.
Văn Xươ/ng gật đầu, Dĩ An đứng bên cạnh, không thay cha bày tỏ sự đồng ý. Khi Bội Linh nói hơi nhanh, Văn Xươ/ng giơ tay ra hiệu dừng một chút, rồi nhờ cô giải thích lại. Cô đổi sang hướng về phía Văn Xươ/ng, chia câu thành từng đoạn, Dĩ An chỉ bổ sung thủ ngữ khi cả hai đều đã đồng ý.
Hành động nhỏ này khiến Dĩ An cảm thấy hơi không quen. Từ nhỏ đến lớn, chỉ cần thấy người nghe nhíu mày, cậu sẽ lập tức lên tiếng; chỉ cần biểu cảm của cha khựng lại, cậu sẽ đoán câu tiếp theo. Lâu dần, cậu thậm chí không phân biệt được đâu là thông dịch, đâu là câu trả lời do chính cậu sắp xếp thay cha.
Sau khi cuốn đầu tiên hoàn tất chuyển đổi, Bội Linh chỉ vào dạng sóng và mã thời gian. Băng gốc có một điểm ngắt ghi đ/è rõ rệt ở gần mốc 27 phút 40 giây, sau đó dù hình ảnh liên tục nhưng tín hiệu từ tính lại thay đổi. Bội Linh ghi lại từng bước kiểm tra vào bảng ghi chép, nhắc nhở họ rằng nếu sau này giao cho bên thứ ba kiểm chứng lại, tệp kỹ thuật số gốc cũng không được ghi đ/è. Cuốn thứ hai và thứ năm cũng có dấu vết tương tự, hơn nữa thời gian c/ắt ghép đều tập trung vào sau dịp kỷ niệm mười năm thành lập đoàn kịch.
Dĩ An lục lại các tờ chương trình cũ. Những năm đó đoàn kịch đang chuyển từ các buổi biểu diễn nhỏ sang xin các khoản trợ cấp văn hóa lớn hơn, trong tập kết quả bắt đầu xuất hiện dày đặc các từ ngữ như "hòa nhập xã hội", "vượt qua rào cản", "truyền cảm hứng".
Văn Xươ/ng nhìn những câu đó, lông mày nhíu lại ngày càng ch/ặt. Ông dùng thủ ngữ nói: "Chúng ta trước đây không viết như vậy."
Dĩ An hỏi: "Cha chắc chứ?"
Động tác của Văn Xươ/ng khựng lại.
Ông thực sự không chắc chắn. Những ngày đầu tập kịch, đạo diễn và diễn viên dùng thủ ngữ tranh luận về vai diễn, chẳng có mấy người đặt sự thấu hiểu của người nghe lên hàng đầu; nhưng sau này khi phải điền đơn dự án, viết báo cáo kết quả, thuyết trình bên ngoài, đoàn kịch dần học cách thu gọn những câu chuyện phức tạp thành phiên bản mà ban giám khảo dễ hiểu. Khi đó ông cũng từng chê phụ đề quá dài, nói rằng "ý nghĩa tương đương là được rồi".
Buổi trưa, Lâm Nguyệt Nga hồi âm, bày tỏ ý muốn đến studio xem băng của chính mình, nhưng chỉ xem, không đồng ý cho bất kỳ ai đưa ra giải thích công khai trước.
Bà đã bảy mươi tuổi, khi vào cửa đội chiếc mũ màu xanh lục sẫm. Việc đầu tiên sau khi ngồi xuống không phải là nhìn vào màn hình, mà là dùng thủ ngữ hỏi Văn Xươ/ng: "Tại sao bây giờ hai người mới phát hiện ra?"
Văn Xươ/ng không có câu trả lời.
Dĩ An theo bản năng muốn giúp cha làm dịu bầu không khí, môi đã mấp máy, nhưng lại dừng lại trước khi kịp phát ra tiếng. Cậu quay sang hỏi Nguyệt Nga: "Cô có cần con thông dịch không?"
Nguyệt Nga lắc đầu. "Không cần đâu. Để cô nói với chú."
Bà chỉ vào Văn Xươ/ng, động tác tay dứt khoát như đang bắt nhịp trên sân khấu tập.
Hình ảnh gốc phát đến đoạn bị xóa, thủ ngữ của Nguyệt Nga kể rằng, khi còn trẻ bà làm việc ở nhà máy, quản lý cảm thấy bà không nghe thấy còi báo động nên không phù hợp làm công việc kỹ thuật, sau đó bà nghỉ việc, không phải vì bản thân "không vượt qua được rào cản", mà là công ty chưa bao giờ sẵn lòng điều chỉnh phương thức cảnh báo.
Phụ đề được tạo lại lại đổ hết trách nhiệm lên người bà.
Nguyệt Nga xem xong, im lặng hồi lâu mới nói: "Đoạn này phải giữ lại thủ ngữ gốc. Phụ đề cũ xóa đi. Phụ đề mới, cô muốn tự mình xem qua."
Văn Xươ/ng lập tức ra hiệu "Được".
Nguyệt Nga lại giơ tay ngăn lại. "Chú không phải thay mặt đoàn kịch mà hứa. Ý cô là, chú có thể chỉ chịu trách nhiệm tìm lại tệp gốc hay không?"
Văn Xươ/ng như bị câu nói đó đẩy lùi vào lưng ghế. Ông chậm rãi trả lời: "Được."
Tiếp đó họ xem đến hộp thứ sáu. Người được phỏng vấn là Thái Chí Hồng đã qu/a đ/ời, người liên lạc là em gái. Dĩ An vốn định gọi điện thoại ngay, nhưng Nguyệt Nga lại hỏi: "Hai người đã sắp xếp trước xem sẽ hỏi những gì chưa? Nếu gia đình không muốn biết thì sao?"
Câu hỏi này khiến cả ba người đều im lặng.
Cuối cùng, Dĩ An chỉ gửi một tin nhắn ngắn gọn, giải thích rằng phát hiện bài phỏng vấn cũ có thể tồn tại sự khác biệt về phiên bản, hỏi xem gia đình có sẵn lòng tiếp nhận thông tin chi tiết hơn không. Không đính kèm video, cũng không viết từ "nạn nhân" hay "giả mạo".
Khi rời studio vào buổi tối, Văn Xươ/ng bước đi rất chậm. Dòng người ở cửa ga tàu điện ngầm rất vội vã, Dĩ An theo thói quen giơ tay định kéo ông một cái, nhưng bàn tay dừng lại giữa không trung.
Văn Xươ/ng nhìn thấy, tự mình nhường một bước sang bên cạnh.
Dĩ An hỏi: "Có cần con dẫn cha qua không?"
Văn Xươ/ng lắc đầu.
Hai người đứng song song chờ đèn tín hiệu. Văn Xươ/ng đột nhiên dùng thủ ngữ nói: "Trước đây con không hỏi."
Dĩ An nhìn ông. "Trước đây con tưởng không hỏi thì nhanh hơn."
Văn Xươ/ng lại im lặng một lúc. "Cha cũng tưởng, để con làm thì nhanh hơn."
Đèn tín hiệu chuyển xanh, họ không nói thêm lời nào nữa. Mười hộp băng đó vẫn như một hàng câu hỏi chưa được mở ra, nhưng ít nhất có một điều đã trở nên rõ ràng: việc kiểm chứng không thể lấy lý do thuận tiện để thay bất kỳ ai quyết định.