Sáng hôm sau, kỹ thuật viên điện hoàn tất kiểm tra, x/ác nhận kho có thể vào vận chuyển trong thời gian ngắn sau khi đã ngắt các mạch điện lỗi và sử dụng đèn chiếu sáng an toàn tạm thời. Văn Xươ/ng và Dĩ An không tranh thủ thời gian, họ làm theo đề nghị của c/ứu hỏa, dọn sạch lối đi trước, sau đó chuyển băng ghi hình và tài liệu giấy theo từng đợt xuống sân khấu tập ở tầng một.
Cuộn thứ tám được đặt lên vị trí đầu tiên.
Báo cáo từ studio phục chế chỉ ra rằng, cuộn này có ít nhất hai lần ghi đ/è. Lần đầu tiên chỉ xóa đi những lời chỉ trích trực tiếp của người được phỏng vấn đối với nhà hát hợp tác; lần thứ hai thì biên tập lại toàn bộ phụ đề, thêm vào nhiều câu "cảm ơn sự ủng hộ" và "vượt qua giới hạn" vốn không có trong thủ ngữ gốc.
Hai lần cách nhau bốn năm.
Văn Xươ/ng nhìn chằm chằm vào ngày tháng, sắc mặt càng thêm trầm trọng. Khi lần ghi đ/è đầu tiên xảy ra, ông thực sự đã từng mượn băng; còn lần thứ hai, ông đã không còn chạm vào băng gốc nữa.
"Vậy là không phải làm xong trong một lần," Dĩ An nói.
Văn Xươ/ng gật đầu. "Ban đầu có lẽ là sợ đắc tội người khác. Sau đó trở thành thói quen."
Họ tiếp tục kiểm tra các cuộn khác. Trong sổ mượn trả, tên của Tạ Quốc Lâm xuất hiện ngày càng thường xuyên hơn về sau; ngày tạo các đĩa CD sao lưu biên tập cũng trùng khớp với thời điểm trước khi quyết toán dự án trợ cấp. Quan trọng hơn, trong một ổ cứng cũ, họ tìm thấy nhiều phiên bản phụ đề, dù tên file lộn xộn nhưng lịch sử chỉnh sửa vẫn lưu lại tài khoản người dùng.
Một trong số các tài khoản đó thuộc về Tạ Quốc Lâm.
Tài khoản còn lại là tài khoản dùng chung của đoàn kịch.
Dĩ An không vội vã coi đó là bằng chứng chống lại cha mình. Tài khoản dùng chung thì bất cứ ai cũng có thể sử dụng, họ cần sự đối chiếu giữa mỗi lần chỉnh sửa với thao tác thực tế.
Nhưng Văn Xươ/ng lại tìm thấy một tờ phiếu xem xét trong tài liệu giấy. Đó là phiên bản sau lần sửa phụ đề đầu tiên của cuộn thứ tám, ở cột cuối có chữ ký của ông.
"Cái này không cần đoán," ông nói.
Dĩ An nhìn ông.
Văn Xươ/ng dùng thủ ngữ chậm rãi nói: "Cha đồng ý xóa tên nhà hát, cũng đồng ý sửa 'phân biệt đối xử' thành 'thiếu hụt thiết bị'. Lúc đó cha cho rằng, để buổi biểu diễn được diễn ra quan trọng hơn."
"Còn bây giờ thì sao?"
"Bây giờ cha biết, đó không phải là trải nghiệm của cha, cha không có tư cách thay người ta đổi từ."
Dĩ An không an ủi ông. Cậu chỉ hỏi: "Cha có sẵn lòng tự nói điều đó tại buổi chiếu phim được cấp phép không?"
Ánh mắt Văn Xươ/ng co lại.
Đây chính là sự phân công quen thuộc nhất giữa hai người trong nhiều năm qua: người cha gánh vác cảm xúc, người con sắp xếp nó thành những lời nói có thể nói ra bên ngoài. Chỉ cần Dĩ An muốn, cậu có thể viết giúp Văn Xươ/ng một bản tuyên bố sạch sẽ, giải thích bối cảnh thời đại, khó khăn về nguồn lực, áp lực thể chế, rồi đặt trách nhiệm vào "môi trường năm đó".
Văn Xươ/ng hiểu ra con trai mình không có ý định tiếp quản.
"Cha sẽ tự nói," ông trả lời.
Những ngày tiếp theo, họ bắt đầu liên lạc với từng người được phỏng vấn hoặc gia đình của họ. Mỗi lần liên lạc chỉ cung cấp thông tin cần thiết, hỏi xem đối phương có muốn biết sự khác biệt giữa các phiên bản hay không, sau đó mới hỏi mong muốn xem bằng cách nào. Có người chọn đến tận nơi, có người chỉ cần bản tóm tắt bằng văn bản, cũng có người nói thẳng là không muốn đụng đến chuyện cũ.
Gia đình của người được phỏng vấn trong cuộn thứ chín thuộc loại cuối cùng.
Đối phương trả lời: "Cha tôi đã qu/a đ/ời nhiều năm, chúng tôi không muốn công khai trở lại, cũng không muốn biết chi tiết. Xin đừng liên lạc nữa."
Văn Xươ/ng xem xong liền nhíu mày. Ông nhớ thủ ngữ của người diễn viên già đó rất đặc sắc, cảm thấy nếu hoàn toàn không xử lý thì sẽ là một mất mát cho lịch sử đoàn kịch.
Ông ký hiệu: "Ít nhất cũng nên nói cho họ biết là đã bị sửa."
Dĩ An lắc đầu. "Họ đã nói là không muốn biết rồi."
"Nhưng đây là tác phẩm của ông ấy."
"Cũng là ranh giới hiện tại của gia đình họ."
Văn Xươ/ng không phục. Động tác tay của ông nhanh dần: "Nếu cái gì cũng không được đụng vào, thì lịch sử làm sao lưu lại được?"
Dĩ An đáp: "Lưu lại lịch sử không có nghĩa là nhất định phải công khai hình ảnh của tất cả mọi người. Có thể giữ lại ghi chép về sự tồn tại, niêm phong nội dung, chú thích là chưa được cấp phép."
Văn Xươ/ng im lặng hồi lâu.
Chiều hôm đó, ông viết lên thẻ cấp phép của cuộn thứ chín: "Không liên lạc nữa; niêm phong; không phát sóng; chỉ giữ lại ghi chép về sự tồn tại và cách xử lý phiên bản."
Viết xong, ông nhìn dòng chữ đó thêm vài phút.
Ông chợt nhận ra, trước đây mình luôn coi việc bảo tồn là một loại chính nghĩa, cứ như thể chỉ cần vì lịch sử đoàn kịch là có thể yêu cầu người khác giao nộp ký ức. Nhưng sự bảo tồn thực sự, đôi khi bao gồm cả việc tôn trọng một đoạn ký ức không bị nhìn thấy.
Buổi tối, Dĩ An nhận được tin nhắn từ công ty mới, x/ác nhận thứ Hai tuần đầu tiên của tháng sau sẽ đi làm.
Cậu nói ngày đó cho cha biết.
Văn Xươ/ng hỏi: "Còn việc sắp xếp tài liệu sau khi dọn dẹp thì sao?"
Dĩ An không né tránh. "Con có thể hỗ trợ thêm hai lần bàn giao nữa, nhưng sẽ không làm thông dịch viên cố định, cũng không làm đầu mối liên lạc."
Trên mặt Văn Xươ/ng lộ rõ vẻ mất mát.
Dĩ An chờ đợi, không vội vàng thu lại ranh giới.
Qua một lúc lâu, Văn Xươ/ng mới hỏi: "Hai lần đó phải hẹn thời gian trước à?"
"Đúng vậy."
"Nếu có việc đột xuất thì sao?"
"Cha có thể hỏi. Nhưng con có thể từ chối."
Văn Xươ/ng nhìn cậu, cuối cùng gật đầu.
Cái gật đầu đó chậm hơn bất cứ câu "cha hiểu rồi" nào, và cũng chân thực hơn.