Buổi chiếu phim ủy quyền đầu tiên diễn ra vào cuối tuần cuối cùng của đoàn kịch. Tấm màn đen trong sân khấu tập đã được tháo dỡ một nửa, trên tường còn lưu lại dấu vết của những chiếc đèn treo nhiều năm. Không có thảm đỏ, không có truyền hình trực tiếp, lối vào chỉ đặt một tờ giấy mô tả chương trình và phạm vi ủy quyền đơn giản.
Văn Xươ/ng kiên quyết nói phần của mình trước.
Ông đứng cạnh màn chiếu, hướng về phía những người được phỏng vấn, gia đình họ và vài cố vấn đ/ộc lập, dùng thủ ngữ nói từng đoạn một. Hai thông dịch viên làm việc luân phiên, không ai nhận được bản thảo đã được "sửa cho trôi chảy" trước đó.
"Tôi từng đồng ý đổi từ 'phân biệt đối xử' mà người được phỏng vấn nói thành 'thiếu hụt thiết bị', cũng từng mặc định đồng ý để phụ đề lược bỏ nội dung nhằm giúp người nghe dễ hiểu. Lúc đó tôi nghĩ, chỉ cần thủ ngữ gốc vẫn còn thì không làm mất đi ý nghĩa của một con người. Bây giờ tôi biết, khi báo cáo kết quả, tin tức và khán giả chỉ đọc phụ đề, những phần lược bỏ đó sẽ trở thành phiên bản của một người khác."
Ông dừng lại.
"Đây là điều tôi đã làm. Tôi không yêu cầu bất cứ ai tha thứ cho tôi ngay lúc này."
Dĩ An ngồi ở hàng ghế thứ ba, lòng bàn tay đổ mồ hôi.
Đến lượt mình, cậu không đứng cạnh cha mà đứng ở phía đối diện.
"Tôi từ nhỏ đã thông dịch cho cha, sau này cũng làm rất nhiều công việc thông dịch không chính thức cho đoàn kịch. Tôi từng lấp đầy những khoảng lặng, làm mềm đi những lời nói quá trực diện, sửa nội dung tôi cho là khó hiểu thành tiếng Trung trôi chảy hơn. Trước đây tôi nghĩ đó gọi là giúp đỡ. Bây giờ tôi biết, điều đó đã đặt phán đoán của thông dịch viên lên trên người phát ngôn."
Cậu nhìn về phía cha.
"Hôm nay dù đã thừa nhận, tôi cũng sẽ không tiếp tục làm thông dịch viên cố định cho ông ấy nữa."
Văn Xươ/ng không rời mắt.
Cuốn băng đầu tiên được phát là phiên bản ủy quyền mới của Lâm Nguyệt Nga. Thủ ngữ gốc được giữ nguyên vẹn, phụ đề mới đã được chính bà x/ác nhận từng đoạn. Khi đoạn phim đến phần bà kể về cảnh báo thị giác ở nhà máy, hội trường rất yên tĩnh. Không có kết luận "vượt qua rào cản", cũng không có nhạc nền truyền cảm hứng.
Cuốn thứ ba chỉ phát nửa sau được Gia Mẫn cho phép. Nội dung tình cảm mà cô yêu cầu giấu đi năm đó vẫn không được công khai. Có người hỏi, vì mọi người đều biết cuốn đó từng bị xóa, liệu có nên vì "tính toàn vẹn của lịch sử" mà công khai bản gốc không.
Gia Mẫn từ chối thẳng thừng.
"Toàn vẹn không phải là các người xem hết mọi thứ."
Không ai hỏi thêm nữa.
Buổi thứ hai quy mô nhỏ hơn. Cuốn thứ chín hoàn toàn không được phát, chỉ do cố vấn lưu trữ x/ác nhận cách thức niêm phong và ghi chép về việc không được chủ động liên lạc với gia đình. Cuốn thứ bảy giữ lại những đoạn không thể dịch đơn lẻ theo chỉ định của Thắng Hùng, phụ đề chỉ chú thích đó là lựa chọn của bản thân người nói.
Nan giải nhất là cuốn thứ tám.
Người được phỏng vấn đã qu/a đ/ời, nhưng gia đình đồng ý phát một đoạn nhỏ với điều kiện tại hiện trường phải trình bày ba phiên bản cùng lúc: thủ ngữ gốc, phụ đề bị lược bỏ lần đầu và phụ đề đã được cải biên theo kiểu báo cáo kết quả sau này. Không phải để khán giả đoán cái nào "tốt hơn", mà để nhìn thấy mỗi lần sửa đổi đã thay đổi hướng quy trách nhiệm như thế nào.
Tạ Quốc Lâm ngồi ở hàng ghế cuối.
Sau khi chiếu xong, ông đứng dậy thừa nhận rằng những lần sửa đổi ở giai đoạn sau đều do ông chủ đạo, và cũng thừa nhận việc lược bỏ mang tính bảo vệ ban đầu đã khiến ông nảy sinh một ảo giác nguy hiểm: chỉ cần lý do nghe có vẻ thiện chí thì có thể thay người khác quyết định nội dung nào nên giữ lại.
Có người hỏi ông: "Bây giờ ông xin lỗi thì có ích gì?"
Tạ Quốc Lâm không trả lời.
Văn Xươ/ng cũng không trả lời thay ông.
Buổi thứ ba về thể chế chỉ trình bày quy trình phiên bản đã khử định danh, đối chiếu dấu từ tính và mã thời gian, cũng như cách thiết lập lưu vết cho phiên bản song ngữ trong tương lai. Đại diện đơn vị trợ cấp hỏi, nếu mỗi lần sửa phụ đề đều phải quay lại x/ác nhận thì liệu có làm tăng chi phí sản xuất đáng kể không.
Văn Xươ/ng dùng thủ ngữ nói: "Có."
Cả hội trường sững sờ.
Ông tiếp tục: "Vì vậy chi phí nên được tính vào, không phải ném nó cho diễn viên, gia đình hay thông dịch viên miễn phí."
Dĩ An nhìn cha, chợt nhớ lại hình ảnh mình nghe điện thoại giúp gia đình lúc tám tuổi. Khi đó tất cả người lớn đều nói cậu hiểu chuyện, không ai gọi khoản lao động đó là chi phí.
Cuối buổi chiếu phim, đoàn kịch công bố nguyên tắc lưu trữ mới: hình ảnh gốc không được ghi đ/è; hình ảnh thủ ngữ và phụ đề giữ mã số phiên bản riêng; sửa phụ đề phải để lại tên người sửa, ngày tháng và căn cứ ủy quyền; mọi mục đích công khai, nghiên c/ứu, tái sản xuất đều phải lấy sự đồng ý riêng biệt; thông dịch viên được đưa vào ngân sách chính thức, không mặc định cung cấp miễn phí với tư cách người thân.
Văn Xươ/ng không tuyên bố "sự kiện đã khép lại viên mãn".
Bởi vì một số người vẫn không tha thứ, một số băng ghi hình sẽ không bao giờ được công khai, và một số sai lầm cũng không thể quay lại sửa chữa như năm xưa.
Sau khi tan hội, hai cha con cùng nhau thu dọn ghế. Khi Dĩ An nâng một chồng ghế, Văn Xươ/ng theo phản xạ đưa tay ra định giúp.
Dĩ An nói: "Con làm được."
Văn Xươ/ng lập tức thu tay về.
Qua vài giây, ông hỏi: "Có cần cha bê chồng còn lại không?"
Dĩ An mỉm cười: "Được ạ."
Hai người mỗi người bê phần của mình, không ai làm thay ai.
Ngoài sân khấu tập, buổi chiều Đài Bắc bắt đầu đổ mưa. Những khán giả cuối cùng che ô rời đi, không ai biết đây có phải là một sự hòa giải thành công hay không.
Nhưng Văn Xươ/ng biết, ít nhất hôm nay, ông đã không yêu cầu con trai nói thay mình.
Và Dĩ An cũng không phiên dịch sự im lặng của cha thành bất kỳ cái kết nào nghe lọt tai hơn.