Hai loại vết xước trên cuộn thứ tư cuối cùng đã tìm được nguồn gốc. Minh Triết lật danh mục thiết bị thanh lý của trạm đến năm Dân quốc 88, tìm thấy một chiếc máy c/ắt ghép từng cho nhóm dự án mượn trong thời gian ngắn. Số hiệu máy khớp với phiếu bảo trì cũ, mô tả hỏng hóc là “trục dẫn băng trái bị mòn, gây ra vết xước dọc ngắt quãng”. Bức ảnh đã ố vàng từ lâu, nhưng hướng vết xước hoàn toàn trùng khớp với các đoạn được ghép vào sau này.
“Vậy là lần c/ắt ghép thứ hai diễn ra vào khoảng năm 88,” Tuệ Quân nói.
“Ít nhất là lô đoạn đó đã qua chiếc máy này.”
Minh Triết vẫn giữ sự thận trọng như cũ. Lần này Tuệ Quân không chê anh vòng vo, mà tự mình bổ sung một câu: “Chứng cứ đến đâu, thì nói đến đó.”
Anh ngẩng đầu nhìn cô. Đó là câu nói anh đã nói vài ngày trước.
Manh mối quan trọng hơn nằm trong một chiếc hộp dụng cụ bằng sắt cha anh để lại. Trạm trưởng ban đầu tưởng bên trong chỉ có thanh khử từ và ốc vít cũ, nhưng Minh Triết lại phát hiện một cuốn sổ tay màu đen nhỏ bằng lòng bàn tay ở ngăn dưới cùng. Chữ của Chu Thiêm Phúc rất nhỏ, ghi chép vị trí c/ắt bỏ theo từng cuộn: “Địa danh, để trống hai giây theo ý người nói”, “không để lại tên thân tộc”, “không phát chi tiết tế lễ”, “chỉ giữ lại đoạn đời sống”.
Tuệ Quân lật đến cuộn thứ sáu, tay dừng lại.
Trang đó viết: “Ông Trần nói, sau này nếu làm chương trình thì đừng bù vào chỗ trống. Trống nghĩa là không nói.”
Một câu nói đã làm chững lại những suy đoán suốt mấy ngày qua.
Tuệ Quân ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ cạnh sàn kho, rất lâu không cử động. “Tại sao cha không để cuốn sổ này cùng với băng?”
“Có lẽ ông ấy cảm thấy hộp dụng cụ là an toàn nhất.”
“Cũng có thể ông ấy căn bản không coi những thứ này là tài liệu chính thức.”
Minh Triết gật đầu. “Đây cũng là vấn đề.”
Thiện ý của cha không thể xóa nhòa lỗ hổng trong hệ thống. Ông dùng ký ức cá nhân và ghi chép tay để bảo vệ người được phỏng vấn, nhưng không thiết lập phiên bản hồ sơ để hậu thế có thể hiểu được và không thể tùy ý ghi đ/è. Khi ông nghỉ hưu, khoảng trống mất đi ngữ cảnh, trở thành không gian trống mà người khác thấy là “có thể sử dụng”.
Tuệ Quân khép cuốn sổ lại. “Trước đây tôi luôn nghĩ cha để lại mọi chuyện cho anh.”
“Ông ấy chỉ để lại máy móc cho tôi.”
“Trong nhà cũng nghĩ vậy. Anh ở trạm, nên ông ấy nói hết với anh.”
Minh Triết cười khổ. “Ông ấy nói với tôi nhiều nhất là cách căn chỉnh đầu từ. Còn chuyện con người, ông ấy lại chẳng mấy khi nhắc.”
Đây là lần đầu tiên kể từ khi cha qu/a đ/ời, hai người trò chuyện về ông không phải vì tranh cãi trách nhiệm.
Buổi chiều, Quách Duy Đình gửi một bức ảnh chụp biên bản họp dự án cũ. Trên đó viết huyện đang thúc đẩy chủ đề du lịch địa phương, trạm phát thanh hy vọng chương trình “nhịp điệu nhanh, tích cực, có tính mời gọi”. Ông gửi kèm một tin nhắn: “Tôi chủ đạo việc c/ắt ghép, nhưng lúc đó mọi người đều cảm thấy là đang sắp xếp tư liệu. Chi tiết thế nào tôi sẵn sàng nói rõ.”
Tuệ Quân đặt điện thoại lên bàn. “‘Mọi người đều cảm thấy’ là tấm khiên tiện lợi nhất.”
Minh Triết lại không lập tức chỉ trích Quách Duy Đình. “Trước đây tôi cũng từng dùng ‘ai cũng biết’.”
Cô nhìn anh một cái.
“Vậy nên buổi điều trần riêng tư đừng chỉ hỏi tại sao ông ấy làm vậy,” Minh Triết nói, “Mà phải nói rõ làm thế nào mà sự việc này lại trở nên bình thường tại trạm lúc bấy giờ.”
Tuệ Quân không phản đối.
Tối đó, họ đối chiếu ghi chép của cha với từng điểm c/ắt của mười hai cuộn băng. Chín cuộn khớp hoàn toàn với vị trí xóa lần đầu, ba cuộn còn lại thiếu một đến hai chỗ ghi chép, có thể là do đ/ứt băng sửa chữa sau này. Quan trọng hơn, những chỗ ghi chép “không được bù vào chỗ trống” thì phiên bản năm 88 gần như đều bị chèn thêm đoạn lời khác.
Minh Triết nghe thấy giọng mình trong cuộn thứ mười.
Không phải dẫn chương trình, mà là giọng nền báo giờ trong phòng điều khiển khi anh hai mươi mấy tuổi: “Đoạn tiếp theo vào sau 30 giây.” Anh nhận ra ngay lập tức, đó là thời gian Quách Duy Đình làm chương trình đặc biệt. Điều này chứng tỏ lúc đó anh có mặt tại hiện trường.
Tuệ Quân chậm rãi quay đầu. “Anh từng tham gia?”
Sắc mặt Minh Triết tái nhợt. Anh cố gắng hồi tưởng, trong đầu chỉ còn lại ánh đèn ca đêm và tiếng máy c/ắt ghép quay. “Tôi sửa máy, cũng giúp chuyển băng. Tôi không nhớ là đã xem nội dung.”
“Không nhớ, không có nghĩa là không có.”
“Tôi biết.”
Anh không vội bào chữa mà đá/nh dấu đoạn này là “Minh Triết có mặt, cần làm rõ”. Hành động này khiến Tuệ Quân im lặng hơn bất kỳ lời phủ nhận nào.
Trước khi về nhà, Minh Triết chủ động đề nghị kiểm tra bảng trực cũ của mình. Tuệ Quân hỏi: “Anh sợ tìm thấy gì?”
“Sợ rằng thực ra tôi biết, chỉ là sau này tự ghi nhớ thành không biết.”
Câu này thốt ra, chính anh cũng thấy x/ấu hổ. Sự khoan dung của con người với chính mình thường lớn hơn rất nhiều so với dung sai cho lỗi máy móc.
Ngày hôm sau, họ tìm thấy câu trả lời trong bảng trực. Từ ngày 15 đến 18 tháng 3 năm 88, Minh Triết liên tục hỗ trợ chuyển băng trong bốn đêm, nội dung công việc chỉ ghi “sắp xếp băng cũ”. Không có bằng chứng cho thấy anh quyết định c/ắt ghép, nhưng anh thực sự là một phần của quy trình đó.
“Tôi không thể nói là hoàn toàn không liên quan đến tôi,” anh nói với Tuệ Quân.
Tuệ Quân không nhân cơ hội trách móc mà chỉ hỏi: “Vậy anh sẽ nói tại buổi điều trần chứ?”
“Sẽ nói.”
“Bao gồm cả việc anh không nhớ và cũng không truy hỏi?”
“Bao gồm cả việc đó.”
Vai cô dường như thả lỏng hơn một chút. “Vậy tôi cũng phải nghĩ đến một chuyện.”
“Chuyện gì?”
“Những năm qua tôi luôn nói anh chỉ quan tâm đến danh tiếng của trạm. Đó cũng là kết luận tôi tự áp đặt cho anh. Tôi có bằng chứng nói anh từng làm sai, nhưng tôi không có bằng chứng nói tôi biết hết mọi động cơ của anh.”
Minh Triết nhìn cô, muốn nói không cần phải minh oan cho anh lúc này, cuối cùng chỉ gật đầu một cái.
Giữa hai người vẫn ngăn cách bởi một chiếc bàn làm việc. Nhưng lần đầu tiên hôm đó, chiếc bàn không giống như một bản án, mà giống như một nơi để cả hai cùng đặt sự thật lên đó.