Sau khi lệnh phong tỏa phòng lò hơi được gỡ bỏ, tiến độ đóng cửa phòng khám được sắp xếp lại. Toàn bộ các tài liệu vốn dự kiến tiêu hủy trong ba ngày đều được hoãn lại, Quốc An nhân cơ hội này tách riêng dữ liệu của từng b/ệnh nhân tương ứng với mười ba chai mẫu, những gì có thể ẩn danh thì ẩn danh trước, những gì không x/ác nhận được ủy quyền thì tạm thời không sử dụng.

Chai thứ sáu liên quan đến một b/ệnh nhân đã qu/a đ/ời. Người trả lời điện thoại là con gái, cô im lặng hồi lâu sau khi nghe rõ mục đích của họ.

“Cha tôi trước đây gh/ét nhất việc người khác nói ông ấy bị b/ệnh,” cô nói, “Nếu chỉ để kiểm tra xem nước năm đó có vấn đề gì không thì được. Nhưng đừng nhắc đến nghề nghiệp của ông ấy trong buổi giải trình, cũng đừng nói ông ấy đã ở phòng an dưỡng nào.”

Quốc An lặp lại các điều kiện một lần.

Giai Dung ở bên cạnh hỏi bổ sung: “Ảnh chụp địa điểm lấy mẫu có thể vô tình chụp phải ranh giới đất tư nhân, bà có đồng ý cho sử dụng không?”

“Không. Các người cứ dùng mã số là được.”

Hai người làm theo đúng như vậy. Thế nhưng đương sự của chai thứ bảy lại hoàn toàn không đồng ý. Người này vừa nghe đến “buổi giải trình đóng cửa” liền cao giọng, bày tỏ không muốn bị liên lạc nữa, cũng không hy vọng bất kỳ dữ liệu nào được lưu lại trong hồ sơ điều tra sau này của phòng khám.

Quốc An nói: “Tôi hiểu. Chúng tôi sẽ loại bỏ những phần có thể nhận diện ra ôngbà khỏi cuộc điều tra, chỉ giữ lại hồ sơ y tế bắt buộc phải lưu theo luật, những thứ khác sẽ không còn được dùng cho cuộc x/ác minh lần này.”

Sau khi cúp máy, Giai Dung nhìn vào dòng trống trơn trên bảng dữ liệu.

“Nếu chai này rút khỏi điều tra, chúng ta sẽ thiếu một điểm thời gian về triệu chứng.”

“Thiếu thì thiếu.”

“Tôi biết,” cô dừng lại một chút, “Chỉ là trước đây khi làm nghiên c/ứu, thiếu một dữ liệu là phản ứng đầu tiên của tôi luôn là tìm cách bù đắp lại.”

Quốc An đá/nh dấu dòng đó là “Rút lui, không liên lạc thêm”. “Lần này chúng ta không phải đang thu thập một bộ dữ liệu đẹp đẽ.”

Buổi chiều, hai người đến một cơ quan kiểm nghiệm bên thứ ba trong huyện để x/ác nhận phương pháp đối chiếu giữa dư lượng trên vỏ chai cũ và nước suối mới lấy. Giám đốc phòng thí nghiệm cho biết có thể quét quang phổ không phá hủy trên bảy chai, lấy một lượng cực nhỏ trầm tích ở hai chai, nhưng kết quả chỉ có thể chứng minh thành phần tương tự, không thể chỉ dựa vào một phân tích để kết luận nguồn gốc.

Giai Dung gật đầu. “Chúng ta còn có ảnh lấy mẫu, vết mài mòn trên vỏ chai và thời gian lưu trữ trong tủ lạnh.”

Quốc An bổ sung: “Khi công khai cũng chỉ nói bằng chứng ủng hộ được đến đâu thôi.”

Trên đường về đi ngang qua trung tâm thành phố Đài Đông, mưa đã tạnh. Giai Dung ngồi ghế phụ, đột nhiên hỏi: “Có phải anh luôn cảm thấy em công khai tọa độ là cố ý đối đầu với gia đình không?”

Quốc An nắm vô lăng. “Trước đây thì có.”

“Còn bây giờ?”

“Bây giờ anh thấy việc em muốn chứng minh lưu lượng suối bị phóng đại lúc đó có thể là có lý. Nhưng chưa hỏi ý kiến những người đồng sở hữu khác vẫn là đi quá giới hạn.”

Giai Dung nhìn ra ngoài cửa sổ xe. “Anh rất giỏi trong việc phân tách vấn đề.”

“Gần đây mới học được.”

Cô cười khổ một tiếng.

Qua vài phút, Quốc An hỏi: “Có phải em cũng luôn cảm thấy năm đó anh giúp viện trưởng tiền nhiệm ém nhẹm chuyện ô nhiễm không?”

Giai Dung không trả lời ngay.

“Phải,” cuối cùng cô nói, “Mẹ em lúc đó cứ bị tiêu chảy, phòng khám nói nước không có vấn đề gì. Anh lại bảo gia đình đừng nói bậy. Em liền ghép tất cả những chuyện đó lại với nhau.”

“Mẹ em lần đó không nằm trong danh sách lưu trú của phòng khám.”

“Em biết. Nhưng bà ấy có đi ngâm.”

Lòng Quốc An chùng xuống. Đây là lần đầu tiên anh biết mẹ của Giai Dung cũng từng có triệu chứng.

“Bà ấy có đi khám bác sĩ không?”

“Có, nhưng đó là dữ liệu của riêng bà ấy. Trước khi bà ấy đồng ý, em sẽ không đưa cho anh.”

Quốc An gật đầu. “Được.”

Giai Dung quay đầu lại, dường như đang x/ác nhận xem anh có thực sự không truy hỏi thêm không.

Đêm đó, phòng thí nghiệm bên thứ ba gửi kết quả đối chiếu sơ bộ. Trong bảy chai có năm chai dư lượng bề mặt thể hiện đặc tính khoáng vật hai lớp; lớp trong khớp với khu vực suối được ghi nhãn ban đầu, lớp ngoài lại cùng gần với suối công cộng. Điều này cho thấy ít nhất năm chai khả năng cao là đã từng đựng nước lấy từ nguồn gốc, sau đó bị làm sạch và đổ thêm nguồn nước khác vào.

Cùng lúc đó, Quốc An tìm thấy trong những bức ảnh ở dãy nhà sau một danh sách thiết bị của công ty tư vấn Đông Tuyền, trên đó liệt kê “Vệ sinh mẫu vật, vật liệu dán niêm phong lại, chai rỗng dùng cho chụp ảnh”.

Giai Dung xem xong, hỏi trước: “Cái này có thể công khai không?”

Quốc An kiểm tra quyền sở hữu tệp. “Hiện tại vẫn chưa được.”

“Vậy thì khoan hãy đưa vào buổi giải trình.”

Anh ngước nhìn cô.

Giai Dung cất bức ảnh vào bao tài liệu. “Đừng nhìn em như vậy. Em không phải đột nhiên biến thành thánh nhân. Em chỉ là biết được cảm giác khi bị người khác lấy dữ liệu của mình đi sử dụng là như thế nào.”

Quốc An cũng cất một hồ sơ b/ệnh án chưa được ủy quyền vào tủ.

“Anh cũng không phải đột nhiên trở nên trong sạch,” anh nói.

Hai người im lặng hồi lâu.

Họ bắt đầu hiểu ra rằng, làm rõ sự thật không tự nhiên khiến người ta trở nên cao thượng hơn. Điều thực sự khó khăn là, mỗi khi tìm thấy một mảnh bằng chứng có lợi, đều phải tự hỏi một lần: Đây có phải là thứ của mình không? Có dùng được không? Dùng đến mức độ nào?

Mười ba chai mẫu vật ngày càng giống như một tấm gương. Nó soi chiếu không chỉ là ai đã tráo nước, mà còn soi chiếu việc hai anh em họ từng quen thói quyết định thay người khác xem thế nào là cần thiết.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Trước khi trạm khí tượng cũ ở Bành Hồ giải thể, anh cùng vợ cũ truy tìm mười hai cuốn sổ quan trắc hải văn bị sửa đổi.

Chương 12
Kỹ sư thiết bị khí tượng 54 tuổi Hồng Văn Sơn trở về trạm khí tượng cũ ở ven biển Tây Tự, Bành Hồ để hỗ trợ công tác rút trạm. Tại đây, ông gặp lại vợ cũ là Hứa Lệ Phương, hiện là điều tra viên bảo hiểm hàng hải, người từng bất hòa với ông do tranh chấp trách nhiệm trong vụ đắm tàu 12 năm trước. Trong 12 cuốn nhật ký quan trắc hải văn, cả hai phát hiện các dữ liệu về độ cao sóng, hướng gió và phao tiêu có sự mâu thuẫn với thời điểm giải quyết bồi thường. Từ việc đối chiếu cảm biến, vết hằn trên giấy, lịch trực, ảnh chụp màn hình radar cho đến hồ sơ gia đình được ủy quyền theo từng vụ việc, họ đã phân biệt được đâu là những ghi chép bổ sung hợp pháp mà các quan trắc viên thời kỳ đầu để lại nhằm sửa lỗi phao tiêu, và đâu là sự ghi đè có hệ thống của nhà thầu nhằm xóa bỏ các dữ liệu bất thường ban đầu để đạt chỉ tiêu hiệu suất và đáp ứng yêu cầu về con số đơn nhất trong các đơn bồi thường. Quá trình điều tra cũng buộc Văn Sơn phải thừa nhận từng ký vào các biên bản hiệu chuẩn thiếu tệp gốc, còn Lệ Phương thừa nhận đã từng mặc định sự im lặng của ông là nhận hết toàn bộ trách nhiệm. Khi chuông báo động khí carbon monoxide từ máy phát điện dự phòng vang lên, cả hai lập tức sơ tán và bàn giao cho lực lượng cứu hỏa cùng kỹ sư chuyên trách xử lý, thay vì quay lại khu vực nguy hiểm chỉ vì tiến độ rút trạm. Cuối cùng, tại buổi hội nghị xác nhận rút trạm, họ chỉ đệ trình chuỗi quan trắc đã được ủy quyền và có thể kiểm chứng, từ đó khởi động việc tái thẩm định bồi thường, truy cứu trách nhiệm thiết bị và thiết lập hệ thống dữ liệu không thể ghi đè. Cả hai không tái hôn, cũng không coi việc công khai sự thật là một nghi thức để tha thứ, mà bắt đầu thiết lập những ranh giới trưởng thành mới từ việc nêu rõ mục đích trong mỗi lần liên lạc, cho phép tạm dừng và từ chối khi cần thiết.
0