Ngày thứ tư, họ quay lại khu xử lý nước thải của nhà máy, dọc theo thời gian lấy mẫu của mười một lô mẫu để kiểm tra máy bơm và đồng hồ đo lưu lượng.
Quốc Vinh quen thuộc từng đoạn đường ống. Ông biết máy bơm nào đã cũ sẽ khởi động chậm, van hồi lưu nào dễ bị kẹt vào mùa đông. Những kinh nghiệm này trước đây khiến ông cảm thấy mình đáng tin cậy hơn cả bảng biểu, nhưng hôm nay lại lần đầu tiên bị Tử Khiêm phản vấn: “Nếu kinh nghiệm thiết bị không để lại hồ sơ có thể truy xuất, người sau này làm sao biết được vì sao chú lại đưa ra phán đoán đó vào lúc ấy?”
Quốc Vinh không cãi lại. Ông bổ sung từng hạng mục bất thường mà mình biết vào phần ghi chú thiết bị, đồng thời đá/nh dấu “Lời khai hồi tưởng, cần chứng thực thêm”.
Buổi chiều, họ tìm thấy một hồ sơ quan trọng: Trong một đợt lấy mẫu được đá/nh dấu là ngày sản xuất tải trọng cao, máy bơm xả thải thực tế đã ngừng chạy liên tục bốn giờ, lý do là mực nước bể điều hòa quá cao. Theo lý, nước lấy ở hạ lưu không thể nào có độ dẫn điện trung tính ổn định như trong báo cáo.
Tử Khiêm đưa ra một giả thuyết: “Có người đã dùng trực tiếp nước ở điểm nền thượng lưu.”
Quốc Vinh nói: “Không thể chỉ dựa vào số liệu.”
“Vậy hãy đi xem nắp chai.”
Mười một thùng được tạm chuyển sang khu kiểm tra có kiểm soát. Hai người không tháo niêm phong mà chỉ dùng ánh sáng xiên và kính lúp để đối chiếu vết hằn trên nắp thùng. Sáu thùng có vết nhựa bị trắng hóa li ti do vặn ch/ặt lần hai, trong đó bốn thùng khớp với đợt mưa lũ mà Ngô Tú Hà mô tả, hai thùng còn lại thì muộn hơn hai năm.
Điều này nghĩa là “chuyển tạm” không chỉ xảy ra trong trận mưa lũ đó.
Tử Khiêm hít một hơi thật sâu: “Những ngoại lệ đã được lưu lại.”
Quốc Vinh nhìn hai thùng đó, bất chợt nhớ lại hai năm trước, nhà thầu Trần Diệu Tông từng yêu cầu thay một lô vật tư tiêu hao lấy mẫu, lý do là chất lượng niêm phong cũ kém. Lúc đó ông chỉ xem tồn kho và chi phí, không truy hỏi niêm phong cũ đã đi đâu.
“Chú đã từng phê duyệt thay đổi vật tư tiêu hao.” Ông nói.
“Có khả năng chính từ lần đó bắt đầu cố định hóa.”
Sắc mặt Quốc Vinh tái nhợt: “Có khả năng, nhưng đừng vội viết thành kết luận.”
Tử Khiêm gật đầu. Lần này, cậu không vội vàng biến nghi ngờ thành cáo buộc.
Hai người tiếp tục phỏng vấn một nhân viên lấy mẫu đã nghỉ hưu. Người này chỉ chấp nhận ẩn danh và yêu cầu rõ ràng không nhắc đến thành viên gia đình. Nhân viên này cho biết, giai đoạn sau, nhà thầu từng yêu cầu họ “lấy mẫu vào ngày mưa, nếu số liệu quá hỗn lo/ạn thì bù lại sau”, còn dặn dò lấy thêm vài thùng ở điểm nền để dự phòng.
“Lúc đó tôi cứ tưởng là kiểm soát chất lượng.” Ông nói nhỏ, “Sau này thấy thùng bị đổi nhãn, tôi không dám hỏi nữa.”
Tử Khiêm hỏi: “Ông có sẵn lòng để lời này dùng trong hội nghị x/ác nhận không?”
Đối phương suy nghĩ rất lâu: “Được, nhưng đừng ghi năm làm việc của tôi. Ghi vào nhìn là biết ngay là ai.”
Tử Khiêm xóa bỏ năm làm việc ngay tại chỗ.
Trên đường về, Quốc Vinh đột nhiên hỏi: “Trước đây cháu làm thuyết trình cho cư dân, cũng hỏi như vậy sao?”
Tử Khiêm không làm ra vẻ hiểu biết: “Không. Trước đây cháu cảm thấy vấn đề ô nhiễm càng minh bạch càng tốt, sợ vừa hạn chế đã bị nói là che giấu.”
“Minh bạch không có nghĩa là dán bảng tên nhà người khác lên.”
“Bây giờ cháu biết rồi.”
“Cháu biết, là vì từng bị m/ắng?”
“Là vì có người đến nhà mẹ cháu hỏi bà có phải cũng uống phải nước ô nhiễm không.” Giọng Tử Khiêm trầm xuống, “Lần đầu tiên cháu phát hiện vị trí cháu công khai sẽ khiến cuộc sống người khác bị người lạ xâm nhập.”
Quốc Vinh nắm nhẹ vô lăng. Ông vốn định nói “Thấy chưa”, cuối cùng chỉ nói: “Vậy thì hãy làm cho đúng lần này.”
Buổi tối, hai người đối chiếu số lượng vật tư lấy mẫu mà nhà thầu lĩnh. Niêm phong vốn dĩ mỗi tháng tiêu hao cố định, trong hai quý cụ thể bỗng dưng lĩnh nhiều gấp đôi, nhưng số lượng mẫu lấy không tăng tương ứng.
Tử Khiêm khoanh tròn dữ liệu: “Đây không phải là ngẫu nhiên.”
Quốc Vinh lại nhìn chằm chằm vào một cột khác: “Người lĩnh niêm phong dư không phải Trần Diệu Tông, mà là một tổ trưởng hiện trường đã nghỉ việc.”
“Có cần tìm ông ta không?”
“Trước hết hãy hỏi xem ông ta có sẵn lòng tham gia không.”
Tử Khiêm nhìn chú, một lúc sau mỉm cười, không phải nụ cười thân thiết, mà giống như thừa nhận đối phương thực sự đã thay đổi cách làm.
“Được. Hỏi trước.”
Trước khi tổ trưởng đã nghỉ việc trả lời về ý nguyện tham gia, Tử Khiêm nhận được một lá thư nặc danh, trong đó chỉ có một câu: “Hai người kiểm tra niêm phong, sao không kiểm tra lượng hút vận chuyển nước thải?”
Hai người không dùng thư nặc danh làm bằng chứng, nhưng lại kiểm tra ngược lại theo đơn vận chuyển nước thải công khai có thể đối chiếu. Quả nhiên trong hai tháng nghi vấn tráo mẫu, lượng vận chuyển nước thải đều tăng thêm một đoạn nhỏ mà không thể giải thích bằng lượng nước thải kiểm định thông thường.
“Có thể là đổ bỏ mẫu vượt ngưỡng, cũng có thể chỉ là nước thải khác.” Tử Khiêm nói.
Quốc Vinh gật đầu: “Vậy nên chỉ có thể coi là manh mối.”
Lần này, họ ghi rõ “Không biết” vào hồ sơ. Tử Khiêm trước đây gh/ét nhất câu trả lời mơ hồ, nay lại bắt đầu hiểu ra, cuộc điều tra đáng tin không phải là lấp đầy mọi khoảng trống, mà là giữ cho khoảng trống vẫn là khoảng trống cho đến khi đủ bằng chứng.
Họ cũng niêm phong nguyên văn lá thư nặc danh đó, không ghi nguồn gửi vào tài liệu công khai. Quốc Vinh nói: “Manh mối có thể dẫn chúng ta đi kiểm tra, không thể làm chứng thay người khác.” Tử Khiêm chép câu này vào phần giải thích phương pháp, coi như đã vạch ra một ranh giới khác cho cuộc điều tra.