Gió tháng Tám ở Bành Hồ không gay gắt như mùa đông, nhưng lại thổi vị mặn vào tận trạm khí tượng bờ biển cũ ở Ngoại Án, Tây Tự. Hồng Văn Sơn đặt hộp dụng cụ bên cửa, liếc nhìn chiếc phong tiêu đã ngưng hoạt động trên mái nhà. Những cánh quạt loang lổ, khi xoay vẫn phát ra tiếng kim loại đều đặn, giống như một nhân viên kỳ cựu biết rõ trạm sắp giải thể nhưng vẫn kiên trì hoàn thành nốt những ngày trực cuối cùng.
Ông năm mươi bốn tuổi, làm công tác bảo trì thiết bị khí tượng đã gần ba mươi năm. Lần trở về này là để hỗ trợ tháo dỡ hai bộ thu tín hiệu phao, kiểm định các cảm biến còn lại, rồi bàn giao dữ liệu quan trắc bản giấy sang cơ sở dữ liệu mới ở Mã Công. Theo kế hoạch ban đầu, ông chỉ cần ở lại mười ngày.
Cửa phòng lưu trữ đang mở. Hứa Lệ Phương đã đứng sẵn bên trong.
“Anh vẫn trễ năm phút.” Cô không ngẩng đầu lên.
Văn Sơn khựng lại một chút. “Tàu cập bến sớm, tôi đã nhanh hơn dự kiến rồi.”
“Vậy nghĩa là tôi đến sớm.”
Ly hôn đã chín năm, đây là lần đầu tiên họ ở chung một không gian làm việc riêng biệt quá một giờ đồng hồ. Lệ Phương năm mươi hai tuổi, hiện là điều tra viên bảo hiểm hàng hải, tóc c/ắt ngắn ngang cằm, trên bàn đặt ba xấp bản sao hồ sơ bồi thường. Cô được chính quyền huyện ủy thác đến để đối chiếu xem các sự cố cũ có khớp với dữ liệu khí tượng hay không.
Văn Sơn không hỏi dạo này cô thế nào, chỉ trải danh mục tháo dỡ trạm ra.
Mười hai cuốn sổ quan trắc hải văn nằm ở ngăn tủ sắt dưới cùng, trải dài suốt mười bảy năm. Trên bìa sổ có những vết muối mặn, vết cà phê và nét chữ của nhiều người khác nhau. Khi Văn Sơn rút cuốn thứ năm ra, ông chú ý đến hai sắc độ mực xanh khác nhau ở mép giấy.
“Trang này được chép lại.” Ông nói.
Lệ Phương bước tới, nhưng dừng lại ở phía đối diện ông. “Ở đâu?”
Văn Sơn chỉ vào cột độ cao sóng. Cột gốc ghi một phẩy tám mét, nhưng bên trên bị ghi đ/è thành một phẩy hai. Tuy nhiên, mặt sau của tờ giấy lại để lại những vết hằn sâu hơn, dưới ánh sáng nghiêng vẫn có thể nhìn thấy cái móc đuôi của số “tám”.
“Dữ liệu phao cùng ngày đó là hai phẩy một.” Lệ Phương lật hồ sơ sự cố ra. “Mà phía bồi thường lại trích dẫn con số một phẩy hai, lý do là tình trạng biển chưa đạt tiêu chuẩn x/ấu.”
Văn Sơn ngước mắt lên. “Vụ nào?”
“Kim Thuận Thành.”
Cái tên đó khiến bầu không khí đột nhiên trở nên nặng nề.
Mười hai năm trước, tàu Kim Thuận Thành mất động lực ở vùng biển phía tây nam Thất Mỹ, sau đó bị lật trong quá trình c/ứu hộ. Hai thuyền viên bị thương, một người mất tích. Khi đó, Văn Sơn phụ trách hiệu chuẩn trạm bờ, còn Lệ Phương được công ty bảo hiểm thuê điều tra. Báo cáo cuối cùng kết luận nguyên nhân chính là do bảo trì tàu kém, dữ liệu khí tượng chỉ được liệt kê là yếu tố phụ trợ. Cũng chính năm đó, họ bắt đầu tranh cãi.
Văn Sơn khép cuốn thứ năm lại. “Trang này không thể mang ra ngoài trực tiếp được.”
Tay Lệ Phương dừng lại trên xấp bản sao bồi thường. “Anh sợ cái gì?”
“Không phải sợ. Trong này có thông tin của gia đình thuyền viên, còn có tên người mất tích. Khi chưa được ủy quyền, tạm thời đừng sao chép.”
“Dữ liệu an toàn công cộng cũng phải hỏi từng vụ một sao?”
“Giá trị quan trắc có thể kiểm chứng. Thương vo/ng cá nhân và chi tiết bồi thường không phải là một.”
Lệ Phương nhìn ông vài giây, cuối cùng thu lại bản sao. “Được. Vậy làm chuỗi quan trắc trước.”
Họ chia mười hai cuốn sổ từ A đến L, không dùng mã số cũ trong tủ nữa. Vòng đầu tiên chỉ ghi nhận những điểm bất thường có thể thấy: vết hằn, màu mực, đường đóng gáy, giấy bị thiếu, số trang được bổ sung. Chưa đầy một buổi chiều, họ đã tìm thấy bảy cuốn có dấu vết bổ sung, ba cuốn có cột hướng gió không khớp với ảnh chụp màn hình radar.
Điều kỳ lạ hơn là cuốn H. Bảng trực ghi đêm đó Trần Tiến Phúc là người trực, nhưng trên sổ lại là nét chữ của một nhân viên bảo trì thầu phụ khác.
“Trần Tiến Phúc còn đó không?” Lệ Phương hỏi.
“Sau khi nghỉ hưu ông ấy sống ở Bạch Sa. Tôi có số điện thoại.”
“Anh gọi, hay tôi gọi?”
Câu hỏi này rất bình thường, nhưng Văn Sơn lại ngẩn người một chút. Trước đây khi họ còn làm việc cùng nhau, Lệ Phương chưa bao giờ hỏi như vậy. Cô sẽ trực tiếp lấy điện thoại của ông để gọi cho kỹ thuật viên, thuyền trưởng, hay bất cứ ai cô cảm thấy cần thiết.
Văn Sơn nói: “Để tôi hỏi xem ông ấy có muốn nói chuyện không đã. Nếu cô muốn tham gia, tôi sẽ giải thích mục đích sau.”
Lệ Phương gật đầu, không hề mỉa mai.
Chập tối, họ tìm thấy một tờ phiếu hiệu chuẩn cũ kẹp trong cuốn C. Văn Sơn nhận ra chữ ký của mình ngay lập tức. Ngày hiệu chuẩn đúng ba ngày trước sự cố tàu Kim Thuận Thành, nhưng cột “Tệp gốc đính kèm” lại để trống.
Lệ Phương cũng nhìn thấy.
“Đây là của anh.”
“Phải.”
“Năm đó anh nói dữ liệu gốc đều nằm trong máy chủ của nhà thầu.”
“Năm đó tôi đã tin họ.”
“Anh cũng đã ký.”
Văn Sơn trải phẳng tờ phiếu hiệu chuẩn. “Đúng.”
Lệ Phương không nói thêm câu “Vậy đó chính là anh” nữa. Cô chỉ lấy bút chì ra, viết lên bảng công việc: “Thiếu tệp gốc, người ký tên Hồng Văn Sơn, nguyên nhân đang chờ điều tra.”
Văn Sơn nhìn dòng chữ đó. Lần cãi vã cuối cùng trước khi ly hôn chín năm trước, Lệ Phương đã từng nói câu tương tự như một bản án: “Anh ký, thì đó là trách nhiệm của anh.”
Giờ đây cô vẫn viết tên ông, nhưng lại thêm vào cụm từ “đang chờ điều tra”.
Trời tối dần, mặt biển ngoài cửa sổ chuyển sang màu xám chì. Văn Sơn khóa mười hai cuốn sổ vào tủ sắt, không mang theo cuốn nào.
Lệ Phương hỏi: “Ngày mai tìm Trần Tiến Phúc trước?”
“Hỏi gia đình tàu Kim Thuận Thành xem họ có đồng ý cho chúng ta đụng vào dữ liệu bồi thường của vụ đó không đã.”
“Nếu họ không đồng ý?”
“Vậy thì không đụng vào.”
Lệ Phương im lặng một lúc. “Được.”
Văn Sơn khóa cửa tủ, đặt một chiếc chìa khóa trước mặt cô, chiếc còn lại giữ cho mình.
Còn chín ngày nữa là giải thể trạm.
Ông chợt hiểu ra, mười hai cuốn sổ này không phải để được sắp xếp cho sạch sẽ, mà là phải thừa nhận rằng có những khoảng trống không thể thay người khác lấp đầy.