Ngày thứ ba, Chu Minh Hiền đi chuyến tàu sớm từ Mã Công qua. Anh không đưa cha đi cùng, chỉ mang theo một hộp nhựa đựng tài liệu, bên trong là nhật ký hàng hải, ảnh truyền fax khí tượng tàu và bản sao các giao dịch bảo hiểm của tàu Kim Thuận Thành mười hai năm về trước.
“Tôi chỉ đồng ý cho các người xem những gì liên quan đến khí tượng và bồi thường,” anh vừa ngồi xuống đã nói ngay, “B/ệnh án thương tật của cha tôi thì không đưa, chuyện gia đình thuyền viên mất tích cũng không bàn.”
Lệ Phương đọc lại từng mục trong phạm vi đồng ý. “Nếu giữa chừng muốn dừng lại, bất cứ lúc nào cũng được.”
Chu Minh Hiền gật đầu.
Nhật ký trên tàu cho thấy hai giờ trước khi xảy ra sự cố, thuyền trưởng từng ghi “sóng gió tăng, khó khăn khi lai dắt” và đã hỏi trạm bờ về tình trạng biển qua vô tuyến. Nội dung hồi đáp không có bản ghi âm hoàn chỉnh, chỉ để lại dòng chữ trong sổ trực trên tàu là “trạm báo sóng cấp một đến hai, gió đông bắc cấp năm đến sáu”.
Văn Sơn lấy ra bản tóm tắt cảm biến gốc của đêm hôm đó. “Phao đã mất tín hiệu từ trước đó rồi.”
“Vậy tại sao lúc đó các người lại báo cấp một đến hai?” Chu Minh Hiền hỏi.
“Đây chính là điều cần phải làm rõ.”
Chu Minh Hiền cười nhạt. “Mười hai năm sau mới làm rõ sao?”
Văn Sơn không biện hộ. “Quá muộn rồi.”
Ba chữ này khiến Lệ Phương ngẩng đầu lên. Trước đây Văn Sơn là người không bao giờ chịu nói “quá muộn”. Ông sẽ nói quy trình lúc đó như vậy, dữ liệu có hạn, không thể suy luận sau sự việc. Những lời đó không sai, nhưng luôn khiến cô cảm thấy ông đã giấu mọi trách nhiệm vào trong các thủ tục.
Buổi chiều, họ đối chiếu cuốn E. Độ cao sóng ghi trên mặt giấy là hai phẩy ba, sau đó sửa thành một phẩy bốn; vết hằn ở mặt sau vẫn còn rõ. Quan trọng hơn, phiếu bảo trì của nhà thầu ngày hôm đó ghi “đã khôi phục bình thường”, thời gian sớm hơn bốn tiếng so với lúc thực tế thay đầu nối.
“Phiếu bảo trì này ai ký nhận?” Lệ Phương hỏi.
Văn Sơn nhìn thấy cái tên quen thuộc - Triệu Khải Minh, trưởng trạm lúc bấy giờ.
“Ông ấy nghỉ hưu rồi về Cao Hùng. Tôi có thể liên lạc.”
“Hỏi xem ông ấy có nguyện ý không đã.”
Văn Sơn gật đầu.
Tối đó Triệu Khải Minh gọi lại, chỉ đồng ý trả lời bằng văn bản. Ông thừa nhận lúc đó để tránh việc Hải Nhạc Nghi Khống bị trừ phí bảo trì, ông đã chấp nhận cách làm “khai hoàn thành trước, bổ sung bảo trì sau”, nhưng phủ nhận việc yêu cầu sửa đổi dữ liệu quan trắc. Ông còn đính kèm một bản in email cũ, bên trên quản lý nhà thầu viết: “Báo cáo xin hãy trình bày bằng giá trị ổn định đã sửa đổi, tránh việc có nhiều phiên bản trong cùng một ngày.”
Lệ Phương nhìn thấy câu đó, sắc mặt trầm xuống. “Đây không còn là sắp xếp định dạng nữa rồi.”
“Vẫn phải xem ai là người thực sự sửa.”
Họ kiểm tra bảng trực cuốn H. Những năm sau sự cố, ngày càng nhiều trang có nét chữ không phải của quan trắc viên, mà là của nhân viên thường trú của Hải Nhạc Nghi Khống. Sau vài lần phao hỏng, ba cột “Giá trị gốc / Giá trị sửa đổi / Lý do” vốn nên được giữ lại, dần dần chỉ còn lại một con số cuối cùng.
Văn Sơn chợt nhớ ra một chuyện. “Trước đây khi tôi làm hiệu chuẩn, nhà thầu sẽ xóa các điểm bất thường trước, rồi mới đưa cho tôi tính độ lệch.”
Lệ Phương nhìn ông. “Anh biết họ xóa?”
“Tôi biết họ làm sạch dữ liệu. Nhưng tôi cứ tưởng tệp gốc vẫn được giữ lại ở nơi khác.”
“Anh đã x/ác nhận chưa?”
“Không phải lần nào cũng x/ác nhận.”
Lệ Phương im lặng.
Văn Sơn viết tên mình vào bảng công việc: “Chấp nhận dữ liệu đã qua xử lý để hiệu chuẩn, không x/ác nhận tính toàn vẹn của tệp gốc.”
“Anh không cần phải định danh đó là trách nhiệm ngay bây giờ,” cô nói.
“Đây không phải là kết tội. Đây là việc tôi đã làm.”
Chu Minh Hiền ngồi bên cạnh, đột nhiên lên tiếng: “Hai người trước đây là vợ chồng à?”
Cả hai đều sững sờ.
“Phải,” Lệ Phương nói.
“Thảo nào nói chuyện cứ như đang đối chiếu sổ sách.”
Văn Sơn cười khổ, Lệ Phương cũng không nhịn được mà mỉm cười. Khoảnh khắc đó rất ngắn, nhưng đã làm dịu bớt bầu không khí căng thẳng trong phòng.
Trước khi cất tài liệu, Chu Minh Hiền nói: “Tôi không quan tâm ai trong hai người sai nhiều hơn. Tôi chỉ muốn biết, vụ bồi thường của cha tôi có phải bị ép xuống do tình trạng biển bị báo sai hay không.”
“Nếu bằng chứng ủng hộ, tôi sẽ đề xuất tái thẩm,” Lệ Phương nói, “Nhưng tôi không thể hứa trước kết quả.”
“Vậy là được rồi.”
Sau khi anh rời đi, Văn Sơn đứng ở cửa nhìn ra biển. “Trước đây em sẽ hứa ngay là ‘nhất định sẽ đòi lại công bằng cho anh’.”
“Trước đây em nghĩ đó mới gọi là đứng về phía đương sự.”
“Còn bây giờ?”
“Bây giờ em thấy, nói rõ những điều không thể đảm bảo cũng là một cách đứng về phía họ.”
Văn Sơn ừ một tiếng.
Chập tối, họ sắp xếp dòng thời gian bất thường của mười hai cuốn sổ. Ba cuốn đầu tiên là do các quan trắc viên như Trần Tiến Phúc bổ sung để sửa lỗi giá trị, vẫn để lại dấu vết gốc; bốn cuốn ở giữa bắt đầu xuất hiện việc nhà thầu chép lại; năm cuốn cuối cùng thì gần như không nhìn thấy giá trị sai lệch gốc, chỉ còn lại “giá trị ổn định” gọn gàng.
Lệ Phương nhìn dòng thời gian đó. “Điều nguy hiểm nhất không phải là có người từng sửa một lần, mà là mọi người sau đó đều thấy rằng dù sao thì cũng có thể sửa như vậy.”
Văn Sơn nói: “Giống như chúng ta vậy.”
“Cái gì?”
“Lần cãi nhau đầu tiên về vụ Kim Thuận Thành là sự cố. Sau đó mọi chuyện đều được xử lý bằng cách cãi nhau kiểu đó.”
Lệ Phương không phản bác.
Cô cất gọn bảng công việc của hai người trên bàn. “Vậy lần này thì không.”
Văn Sơn nhìn cô. “Không cái gì?”
“Không phải vừa có vấn đề là đã quyết định đối phương sẽ làm thế nào.”
Tiếng sóng ngoài trạm từng đợt đ/ập vào khối chắn sóng. Văn Sơn chợt cảm thấy, câu nói này còn khó hơn và cũng hữu ích hơn bất kỳ lời xin lỗi nào.