Ngày thứ năm, Văn Sơn mang đến một chiếc đèn kiểm tra góc thấp, đặt mười hai cuốn sổ lên dưới ánh sáng nghiêng từng trang một. Bề mặt giấy thoạt nhìn chỉ có những con số cuối cùng, nhưng các vết hằn lại để lại những nét bút đã bị tẩy xóa hoặc ghi đ/è. Ở cuốn F, chữ “nhị” (hai) chỉ độ cao sóng ban đầu đã bị đổi thành “nhất” (một), vết hằn ở mặt sau vẫn còn nguyên vẹn; ở cuốn J, hướng gió từ Đông Bắc bị đổi thành Đông, bên dưới vẫn còn những sợi giấy xơ x/ác do cục tẩy để lại.
“Ai lại dùng bút chì viết trước nhỉ?” Lệ Phương hỏi.
“Nhân viên thường trú của nhà thầu thường làm thế. Quan trắc viên chính thức đa phần dùng bút bi trực tiếp.”
Họ đối chiếu đặc điểm nét chữ với bảng trực ca cũ, phát hiện một vài điểm sửa đổi mấu chốt tập trung vào những tháng mà Lâm Kính Tông, một kỹ sư của Hải Nhạc Nghi Khống, trực ca. Lâm Kính Tông hiện đang làm việc tại một công ty khác ở Cao Hùng. Văn Sơn gọi điện giải thích mục đích, đối phương từ chối ngay, nhưng nửa tiếng sau lại gửi tin nhắn, bày tỏ sẵn sàng trả lời bằng văn bản nhưng không đồng ý công khai tên tuổi.
Lệ Phương nói: “Vậy chúng ta chỉ dùng lời khai ẩn danh, trừ khi sau này có dữ liệu khác có thể kiểm chứng.”
Câu trả lời được gửi đến vào buổi trưa. Lâm Kính Tông thừa nhận cấp trên năm đó yêu cầu “sửa các đỉnh đột biến không hợp lý”, đồng thời cung cấp một bản quét chỉ thị công việc nội bộ. Chỉ thị viết: Nếu giá trị phao chênh lệch quá lớn so với “tình trạng biển hợp lý”, có thể sửa theo giá trị trung bình của thời đoạn trước sau, rồi đồng bộ cập nhật vào bản giấy.
“Ai là người phán đoán “tình trạng biển hợp lý”?” Văn Sơn nhíu mày.
Lệ Phương lật sang trang sau. “Không có định nghĩa.”
Điều khiến cô cảnh giác hơn là ngày tháng trên tài liệu. Nó không phải là thời kỳ bổ sung ghi chép lỗi sớm nhất, mà là năm thứ ba sau khi Hải Nhạc tiếp quản, đúng vào thời điểm các tranh chấp bồi thường gia tăng.
Buổi chiều, một nhân viên về hưu từng làm công chứng hàng hải chủ động liên lạc với Lệ Phương. Ông chỉ muốn bàn về chế độ, không bàn về vụ việc cụ thể, và cho biết năm đó một số nhà thầu bị công ty đại lý bảo hiểm yêu cầu cung cấp “bản tóm tắt tình trạng biển ổn định” để thuận tiện x/ác nhận xem có đạt tiêu chuẩn miễn trừ hoặc tăng mức bồi thường do thời tiết hay không.
“Công ty đại lý có thể yêu cầu bản tóm tắt, không thể yêu cầu sửa dữ liệu quan trắc,” Lệ Phương nói.
“Mọi người đều nói không phải là sửa, chỉ là loại bỏ giá trị lỗi.”
Câu nói này khiến cả hai cùng im lặng.
Văn Sơn đặt quy tắc bổ sung gốc, chỉ thị nội bộ của Hải Nhạc và bản tóm tắt bồi thường lên cùng một bàn. Ban đầu là quan trắc viên biết cảm biến hỏng, giữ lại giá trị sai, chú thích thêm giá trị ước tính; sau đó trở thành nhà thầu phán đoán giá trị nào là “không hợp lý” rồi trực tiếp sửa đổi; cuối cùng phía bồi thường chỉ nhận được những con số ổn định đã qua chỉnh sửa.
Một lối tắt tưởng chừng như mang tính kỹ thuật, dần dần biến thành công cụ ảnh hưởng đến việc phân định trách nhiệm.
Lệ Phương hỏi: “Liệu Hải Nhạc có thể chỉ vì lười biếng chứ không phải vì bồi thường không?”
“Có thể,” Văn Sơn nói, “Không thể cứ thấy thời gian nối tiếp nhau là coi đó là qu/an h/ệ nhân quả.”
“Vậy nên phải tìm thiếu sót trong bảo trì.”
Họ kiểm tra tủ thiết bị cạnh phòng máy nén, tìm thấy cuốn sổ thay thế linh kiện cũ của bộ thu tín hiệu phao. Trong bốn năm có nhiều sự cố, cùng một loại bộ chuyển đổi tín hiệu hỏng hóc thường xuyên, nhưng Hải Nhạc nhiều lần chỉ ghi “khởi động lại để khôi phục”, không thay thế theo hợp đồng. Nếu thừa nhận thiết bị liên tục hỏng, công ty có thể bị trừ tiền; sửa giá trị bất thường thành đường cong mượt mà, ngược lại có thể làm cho báo cáo bảo trì trông có vẻ bình thường.
“Đây chính là động cơ,” Lệ Phương nói.
“Đó là động cơ ở khía cạnh bảo trì. Vẫn chưa phải là thông đồng bồi thường.”
Cô gật đầu.
Chập tối, gia đình họ Cao phản hồi về nguyện vọng thông báo an toàn. Họ không tham gia tái thẩm bồi thường, nhưng hy vọng nếu x/ác nhận dữ liệu quan trắc từng bị sửa, sau này đừng dùng loại dữ liệu đó để phán đoán rủi ro xuất cảng nữa. Lệ Phương đưa yêu cầu này vào hạng mục an toàn công cộng của hội nghị kiểm chứng giải thể trạm, không viết tên gia đình.
Văn Sơn nhìn thấy xong liền hỏi: “Em không thấy làm vậy bằng chứng sẽ ít sức nặng hơn sao?”
“Trước đây thì có,” Lệ Phương nói, “Bây giờ em thấy họ sẵn sàng cho bao nhiêu thì em dùng bấy nhiêu. Bằng chứng không đủ là việc chúng ta phải gánh chịu, không phải bắt đương sự nộp thêm quyền riêng tư để bù đắp.”
Nói xong, cô kẹp lại một tấm ảnh sự cố cũ vào túi. Đó là ảnh thân tàu Kim Thuận Thành sau khi được kéo về cảng, không cần thiết cho việc phán đoán tình trạng biển.
Văn Sơn đột nhiên nói: “Trước đây anh gh/ét nhất việc em bày tất cả ảnh ra.”
“Anh chưa bao giờ nói.”
“Anh chỉ nói ‘cái này không có giá trị kỹ thuật’.”
“Nên em nghe thành anh không quan tâm đến t/ai n/ạn.”
“Thực ra là anh không biết cách nhìn.”
Lệ Phương chậm rãi đóng túi tài liệu lại. “Em cũng không biết cách hỏi.”
Họ không truy c/ứu xem đó là năm nào, bữa tối nào, hay câu nói nào làm tổn thương đối phương trước. Những chi tiết đó có lẽ đều là thật, nhưng không cần thiết phải mang từng cái ra mới có thể làm việc.
Trong đêm, Văn Sơn tìm thấy một mẩu giấy nhỏ bị ghim đ/è lên ở trang sau cuốn F. Trên đó chỉ có một dòng: “Ảnh chụp màn hình gốc phải lưu riêng, nhà thầu không được xóa.”
Chữ ký là Triệu Khải Minh.
Điều này cho thấy phía trạm ít nhất đã từng yêu cầu rõ ràng về việc lưu giữ dữ liệu gốc.
Và điều cần kiểm tra tiếp theo chính là, những ảnh chụp màn hình gốc đó rốt cuộc đã đi đâu.