Sáng thứ chín, danh sách tham dự hội nghị kiểm chứng giải thể trạm đã được x/ác định. Ngoài chính quyền huyện và Trung tâm dữ liệu mới, Triệu Khải Minh đồng ý tham dự, Hải Nhạc Nghi Khống cử đại diện pháp lý và kỹ thuật, còn Tư vấn Bồi thường Hải Liên chỉ tham gia trực tuyến. Về phía gia đình nạn nhân, không ai cần phải có mặt; người duy nhất đồng ý công khai tên là Chu Minh Hiền, các vụ khác đều ẩn danh theo ủy quyền hoặc chỉ trình bày chuỗi quan trắc.
Lệ Phương đưa bản thuyết trình phiên bản đầu tiên cho Văn Sơn xem.
Trang đầu tiên không phải là “Mười hai cuốn sổ giả mạo”, mà là “Các phiên bản dữ liệu quan trắc và lỗ hổng gốc”.
Văn Sơn hỏi: “Em sợ bị nói là quá bảo thủ sao?”
“Em sợ chính chúng ta viết ch*t kết luận ngay từ đầu.”
Ông lật đến trang trách nhiệm, nhìn thấy tên mình: “Hồng Văn Sơn - từng ký hồ sơ hiệu chuẩn thiếu phụ lục gốc, từng chấp nhận dữ liệu đã qua xử lý sơ bộ của nhà thầu mà không x/ác nhận đầy đủ tính toàn vẹn của tệp gốc.”
“Được,” ông nói.
Trong ô của Lệ Phương viết: “Hứa Lệ Phương - trong cuộc điều tra vụ tàu Kim Thuận Thành trước đây, từng giải thích việc ký duyệt và im lặng thành sự quy trách nhiệm hoàn toàn, không truy c/ứu đầy đủ quy trình dữ liệu của nhà thầu; trong lần tái thẩm này sẽ rút khỏi quyết định bồi thường cuối cùng của vụ án gốc, để điều tra viên khác kiểm tra lại.”
Văn Sơn ngẩng đầu. “Em muốn rút khỏi vụ án?”
“Em có thể sắp xếp dữ liệu, nhưng không thể một mình quyết định kết quả nữa.”
“Vì mối qu/an h/ệ của chúng ta?”
“Cũng vì em đã từng tham gia vào vụ án gốc.”
Ông không nói rằng cô không cần làm vậy. Ông biết đó là một phán đoán chuyên môn mà sự an ủi không thể thay thế.
Buổi chiều, phòng thí nghiệm hiệu chuẩn bên thứ ba hoàn thành báo cáo cuối cùng. Trong mười hai cuốn sổ, bảy cuốn tồn tại lỗ hổng về giá trị gốc hoặc phiên bản có thể kiểm chứng; trong đó bốn cuốn trùng thời gian với các vụ bồi thường. Hai cuốn khác chỉ là quan trắc viên bổ sung ghi chép theo quy định, giá trị gốc và lý do đều được giữ lại, không nên bị đá/nh đồng là sửa đổi bất hợp lý.
“Điều này rất quan trọng,” Văn Sơn nói, “Không thể vì muốn chứng minh phía sau có vấn đề mà biến cả những ghi chép bổ sung bình thường thời kỳ đầu thành giả mạo.”
Lệ Phương gật đầu. “Trần Tiến Phúc có tham dự không?”
“Không. Ông ấy chỉ đồng ý cho chúng ta trích dẫn tấm ảnh quy tắc đó và lời giải thích bằng văn bản của ông ấy.”
“Vậy cứ thế đi.”
Họ lại che đi từng mục thông tin sự cố. Tên gia đình, tình trạng thương tích, ảnh chụp thân tàu đều bị xóa khỏi bản công khai; chỉ giữ lại nội dung cần thiết trong gói dữ liệu đóng đã ủy quyền cho việc tái thẩm bồi thường.
Chập tối, bộ phận pháp lý của Hải Nhạc gọi điện, yêu cầu hội nghị không được trưng bày bản gốc chỉ thị nội bộ với lý do bí mật thương mại.
Lệ Phương hỏi Văn Sơn: “Anh nghĩ sao?”
“Nguồn tài liệu là phụ lục nghiệm thu của huyện và bản sao do cựu lãnh đạo cung cấp, có được trưng bày hay không phải để đơn vị tổ chức x/ác nhận. Anh không quyết định vấn đề pháp lý.”
“Trước đây anh sẽ nói tài liệu kỹ thuật thì phải công khai.”
“Trước đây anh cái gì cũng muốn tự phán xét.”
Cuối cùng, đơn vị tổ chức quyết định chỉ trưng bày các trích dẫn liên quan trực tiếp đến quy trình quan trắc, bản gốc đầy đủ để phục vụ kiểm toán, không phát tán tại hội trường công khai.
Khi tan làm buổi tối, Văn Sơn bất ngờ nhận được tin nhắn của con gái Hồng Giai Dĩnh. Cô bé hai mươi sáu tuổi đang làm việc ở Đài Bắc hỏi: “Mẹ nói hai người gần đây cùng nhau ở Bành Hồ điều tra chuyện cũ đó hả? Hai người định tái hợp sao?”
Văn Sơn nhìn điện thoại, không nhịn được thở dài.
“Có chuyện gì vậy?” Lệ Phương hỏi.
Ông không đưa điện thoại cho cô. “Giai Dĩnh hỏi chúng ta có tái hợp không. Anh có thể nói với con là chúng ta chỉ hợp tác điều tra vụ án không?”
Lệ Phương suy nghĩ một chút. “Được. Cũng có thể nói chúng ta hiện tại hòa hợp hơn trước, nhưng đừng thay em nói rằng tương lai là không thể.”
Văn Sơn cười. “Em chừa lại không gian lớn thật.”
“Không phải chừa cho việc tái hôn. Mà là em không muốn để người khác thay em tuyên bố sự vĩnh viễn nữa.”
Văn Sơn gật đầu, trả lời con gái: “Chúng ta không tái hợp. Hiện tại cùng nhau hoàn thành điều tra giải thể trạm, mối qu/an h/ệ nói chuyện rõ ràng hơn trước một chút. Sau này mỗi người tự quyết định, không cần con giúp đoán.”
Lệ Phương xem xong nội dung ông đọc, nói: “Cái này em đồng ý.”
Một lát sau, Giai Dĩnh gửi lại một mặt cười, kèm theo một câu: “Chỉ cần hai người đừng bắt con truyền lời nữa là được.”
Cả hai đều im lặng.
Hai năm đầu sau khi ly hôn, họ quả thực thường xuyên thông qua con gái để truyền đạt việc nhà, bảo hiểm, lời mời người thân, khiến cô bé phải chịu áp lực không cần thiết ở giữa.
Lệ Phương nói: “Sau hội nghị kiểm chứng, em sẽ xin lỗi con về chuyện này.”
“Anh cũng vậy.”
“Mỗi người tự nói.”
“Được.”
Sau đêm khuya, mười hai cuốn sổ quan trắc được đặt gọn gàng vào hộp chống ẩm. Văn Sơn dán mã kiểm kê mới bên ngoài hộp, nhưng không x/é đi mã số cũ.
“Từ ngày mai, chỉ thêm vào, không ghi đ/è,” ông nói.
Lệ Phương nhìn những bìa sổ loang lổ đó. “Bao gồm cả những lời chúng ta từng nói trước đây sao?”
“Những gì đã nói cứ để đó. Chỉ là phía sau có thể thêm cái mới.”
Cô mỉm cười. “Cái này thực tế hơn ‘bắt đầu lại từ đầu’.”
Văn Sơn cũng cười.
Họ không bắt đầu lại từ đầu.
Họ chỉ là cuối cùng cũng sẵn lòng để phiên bản cũ tồn tại, và không còn ép nó phải trở thành phiên bản duy nhất nữa.”