Ánh nắng buổi chiều ở Đài Nam xuyên qua khe những tấm rèm gỗ trên tầng hai của xưởng giặt nhuộm, chiếu lên hàng ống hơi đã ngưng hoạt động. Khi Tô Nhã Linh khuân thùng móc treo bằng gỗ long n/ão cuối cùng vào kho, một góc tờ giấy đỏ dán ở cửa với dòng chữ "Cuối tháng đóng cửa" bị gió thổi bay lên. Cô không ngẩng đầu nhìn. Xưởng giặt nhuộm nằm trong con hẻm ở quận Trung Tây này đã làm phục trang sân khấu hơn bốn mươi năm, đến cả đôi vai của cô cũng như bị hơi nước, th/uốc nhuộm và bàn ủi mài giũa thành một góc cố định.
Người anh họ Tô Kiến Hoành đến trễ mười phút so với giờ hẹn. Anh hiện là cố vấn kỹ thuật phòng ch/áy chữa ch/áy và sân khấu cho các đoàn kịch, vừa vào cửa đã nhìn hướng thoát hiểm rồi nhìn bảng điện, như thể cố ý không nhìn cô.
"Kiểm kê kho treo đồ tầng hai trước nhé?" anh hỏi.
"Anh đến để xem trang phục chống ch/áy, chứ không phải để thanh tra tiệm tôi."
"Tôi biết."
Lần cuối cùng hai người nói chuyện tử tế là năm năm trước, về việc xử lý thiết bị của xưởng mà ông nội để lại. Kiến Hoành chủ trương tập hợp các kỹ thuật cũ thành tài liệu tư vấn, còn Nhã Linh cho rằng nếu không có sự đồng ý của cả gia tộc thì không được mang làm tài liệu giảng dạy. Sau đó anh vẫn làm. Cô không kiện, nhưng từ đó về sau cũng không gọi anh là anh nữa.
Lần này là vì mười bộ phục trang chống ch/áy cần trả lại cho đoàn kịch và công ty cho thuê. Nhã Linh tháo túi chống bụi theo số thứ tự trên thẻ, bộ đầu tiên là áo choàng võ sinh màu xanh mực đậm, bộ thứ hai là quân phục giả cổ, bộ thứ ba là phục trang thần quái đỏ đen đan xen. Khi chạm đến gấu áo bộ thứ năm, ngón tay cô khựng lại.
"Lớp Iót không đúng."
Kiến Hoành đeo găng tay sạch vào, không nhận lấy trực tiếp mà chỉ hỏi: "Cho tôi xem được không?"
Nhã Linh liếc nhìn anh một cái rồi mới lật gấu áo lên bàn. Đường chỉ bên trong dày hơn so với mật độ chỉ mà xưởng giặt nhuộm vẫn thường dùng, nhưng sợi chỉ lại thô. Sợi nhân tạo chống ch/áy đáng lẽ phải có cảm giác đàn hồi hơi cứng, còn miếng vải trước mắt lại cho cảm giác giống như sợi polyester thông thường.
Họ tiếp tục kiểm tra chín bộ còn lại. Trong mười bộ phục trang, có bảy bộ xuất hiện vấn đề tương tự, ba bộ còn lại tuy lớp Iót giống nguyên liệu gốc nhưng mép vải lại có dấu vết đã tháo ra thay mới rồi kh//âu lại.
Nhã Linh rút sổ ghi chép các đợt giặt từ trong tủ ra. Mười bộ này đã vào tiệm sáu lần trong vòng hai năm, quy trình giặt ghi trong sổ đều tuân thủ yêu cầu của sợi chống ch/áy: giặt nước lạnh, không dùng nước xả vải, không sấy nhiệt độ cao. Thế nhưng bản sao báo cáo kiểm định phòng ch/áy mà đoàn kịch gửi đến lại ghi rõ mỗi bộ đều đã vượt qua đợt kiểm tra mẫu vật vào năm ngoái.
Kiến Hoành hỏi: "Kiểm định có tháo lớp Iót không?"
Đầu ngón tay Nhã Linh ấn lên một trong những phiếu bàn giao. Tờ đó có chữ ký của cô.
"Lô này thì không. Bên môi giới cho thuê nói gấp buổi diễn nên chỉ kiểm tra ngoại quan và lấy mẫu vải bề mặt."
"Cô đã ký x/ác nhận đạt chuẩn?"
"Tôi ký là bàn giao giặt nhuộm, không phải đạt chuẩn phòng ch/áy."
"Trên đó có ghi chú 'X/ác nhận nhãn chống ch/áy'."
Cô ngẩng đầu, giọng điệu lạnh đi: "Bây giờ anh muốn kiểm tra quần áo trước, hay muốn thẩm vấn tôi trước?"
Kiến Hoành im lặng vài giây rồi đẩy tài liệu về phía cô. "Kiểm tra quần áo trước. Trách nhiệm của cô, lát nữa cô tự giải trình."
Câu nói này ngược lại khiến Nhã Linh khựng lại một chút.
Họ bọc mười bộ phục trang trở lại túi chống bụi ban đầu, không tháo lớp Iót, không làm hỏng đường chỉ, chỉ dùng hình ảnh ghi lại những phần có thể quan sát được. Kiến Hoành đề nghị liên lạc trước với các đoàn kịch và diễn viên từng mặc, vì các ghi chú về kích thước, hồ sơ chấn thương và ảnh diễn xuất đều có thể liên quan đến thông tin cá nhân. Nhã Linh vốn định gọi trực tiếp cho vị trưởng đoàn quen thuộc để hỏi dữ liệu, nhưng tay chạm vào điện thoại rồi lại dừng lại.
"Hỏi từng người một sao?"
"Từng người một. Ai chỉ cho phép xem ảnh thì chỉ xem ảnh; ai không muốn tham gia thì không liệt kê phần của họ vào."
Nhã Linh cười khổ. "Trước đây chúng ta làm phục trang, sư phụ nói vì sự an toàn nên kích thước, vết thương, bất cứ thứ gì cũng phải ghi nhớ càng chi tiết càng tốt."
Kiến Hoành nhìn mười túi chống bụi đó. "Ghi nhớ càng chi tiết, không có nghĩa là có quyền lưu giữ càng lâu."
Tiếng thoát nước của máy giặt ở tầng dưới đã ngưng. Trong xưởng đột nhiên im ắng đến mức chỉ còn tiếng quạt điện cũ quay. Nhã Linh nhìn chữ ký của mình, lần đầu tiên không vội vàng tìm lý do cho tờ phiếu bàn giao năm đó.
Cô lấy ra mười tấm thẻ niêm phong trống mới, chỉ ghi số thứ tự vật phẩm, không chép tên bất kỳ diễn viên nào. Kiến Hoành chia mặt bàn thành ba khu vực: "Chờ ủy quyền", "Có thể xem", "Tạm thời không xử lý".
Bộ áo choàng võ sinh màu xanh mực đầu tiên được đặt vào khu "Chờ ủy quyền".
Trước khi đóng cửa kho, Nhã Linh hỏi: "Nếu cuối cùng thực sự không phải chúng ta giặt hỏng, liệu anh có nói rằng, chuyện này không liên quan gì đến nhà họ Tô không?"
Kiến Hoành không trả lời theo kỳ vọng của cô.
"Phải xem bằng chứng. Cũng phải xem chúng ta từng làm những gì."
Cô xoay chìa khóa đến tận cùng, nghe tiếng chốt khóa sập lại.
Khoảnh khắc đó cô mới biết, thứ cần dọn dẹp trước khi đóng cửa tiệm, e rằng không chỉ có mười bộ phục trang.
Trước khi rời đi, Nhã Linh lại lấy cuốn mẫu vải chống ch/áy cũ trong tiệm ra. Trên thẻ nguyên liệu của mười năm trước, ngoài tên sản phẩm còn kh//âu kèm mẫu vải thật. Cô để Kiến Hoành chỉ xem những phần không liên quan đến khách hàng, hai người đối chiếu xong phát hiện cảm giác của bảy lớp Iót đáng ngờ khác xa với mẫu vải trong cuốn sổ. Kiến Hoành đề nghị chụp ảnh thẻ nguyên liệu làm bằng chứng nền, nhưng Nhã Linh x/ác nhận trước rằng cuốn sổ thuộc quyền sở hữu chung của gia tộc, không thể vì đặt trong tiệm mà cô có thể tự ý công khai. Cô viết việc này vào hạng mục chờ ủy quyền. Kiến Hoành nhìn thấy nhưng không khen ngợi, chỉ bổ sung thêm một câu: "Quy tắc tương tự cũng phải áp dụng lên tôi." Nhã Linh không trả lời, nhưng cũng không gạch bỏ câu nói đó.