Buổi công chứng niêm phong hầm được tổ chức tại phòng họp ở tầng trệt của nhà máy rư/ợu cũ. Ngoài cửa sổ là những bức tường đ/á thấp và buổi chiều mùa đông được gió thổi sáng loáng, còn chín vò rư/ợu vẫn ở trong hầm ngầm, giữ nguyên hiện trạng nhờ niêm phong và hồ sơ giám sát.

Số người tham dự không đông: nhóm kiểm kê tài sản, công chứng viên, đơn vị kiểm định bên thứ ba, đại diện nhà thầu, hai nhân viên làm chứng đã được ủy quyền, cùng Nguyệt Cầm và Minh Viễn.

Nguyệt Cầm bắt đầu giải trình phần của mình.

Cô không bắt đầu từ nhà thầu, mà trình chiếu bản sao bảng nghiệm thu lấy mẫu thiếu sót năm đó, sau khi đã che đi tên tuổi và các cột công thức nội bộ.

“Bản báo cáo này là do tôi ký. Lúc đó tôi chỉ lấy mẫu ba vò, biết phạm vi đối chiếu không đủ, nhưng lại không đính kèm ý kiến phản đối vào biên bản bàn giao chính thức. Điều này khiến các dữ liệu sau đó trông có vẻ đầy đủ hơn thực tế kiểm tra.”

Phòng họp im phăng phắc.

Tiếp đó, Minh Viễn nói: “Tôi chịu trách nhiệm sắp xếp quy tắc sử dụng bằng chứng trong vụ án này. Bốn năm trước, tôi đã trích dẫn sổ tay kiểm nghiệm cá nhân của Hứa Nguyệt Cầm mà không có sự đồng ý của chị ấy, và coi việc không phản hồi là ngầm đồng ý. Bản trình bày cũ này sẽ không được liệt kê là bằng chứng trong vụ án. Tôi nêu việc này ra vì tất cả lời khai hôm nay đều phải được xử lý theo cùng một tiêu chuẩn.”

Luật sư của Ngô Thế Minh lập tức hỏi: “Việc này thì liên quan gì đến chín vò rư/ợu?”

Minh Viễn đáp: “Liên quan đến việc bằng chứng có thể được sử dụng một cách hợp pháp và đáng tin cậy hay không.”

Công chứng viên yêu cầu anh tiếp tục.

Chuỗi bằng chứng được mở ra theo trình tự thời gian. Hồ sơ mất điện chứng minh hai vò rư/ợu từng dùng nhãn dự phòng do niêm phong bị bong; lời khai ẩn danh của sư phụ Chu giới hạn đó chỉ là biện pháp c/ứu nguy một lần; bản sao sổ nhập liệu gốc cho thấy thời gian nhập liệu thực tế của ba vò rư/ợu muộn hơn bản chỉnh lý; hồ sơ ra vào ban đêm và đường cong độ ẩm chứng minh có nhiều lần di chuyển vò rư/ợu sau đó; tệp đính kèm thanh toán của nhà thầu cho thấy nhiều năm sau vẫn có giờ công “niêm phong lại”; kiểm định bên thứ ba x/ác nhận thành phần của vò thứ sáu và thứ chín không khớp với năm sản xuất khai báo.

Ngô Thế Minh nói: “Lời khai ẩn danh không thể chứng minh là chúng tôi thay.”

Nguyệt Cầm không tranh cãi điểm này: “Vì vậy chúng tôi không dùng lời khai ẩn danh để chứng minh hành vi của nhà thầu. Hành vi của nhà thầu được chứng minh bằng hồ sơ ra vào, giờ công và dữ liệu nhập liệu. Lời khai ẩn danh chỉ dùng để x/ác định phạm vi của ngoại lệ ban đầu.”

Sự rạ/ch ròi này khiến đối phương nhất thời không thể phản bác.

Đơn vị bên thứ ba đề nghị mở niêm phong kiểm định lại sáu vò còn lại theo từng đợt. Nhóm kiểm kê quyết định đình chỉ ngay việc bàn giao lưu trữ đặc biệt, chín vò rư/ợu được cách ly, hoàn tất niêm phong toàn bộ trước, sau đó mới lấy mẫu từng vò theo quy trình công chứng. Những vò không đạt năm tuổi không được liệt kê vào tài sản lưu trữ đặc biệt, đồng thời khởi động việc truy thu phí quản lý và bảo tồn đã thanh toán.

Luật sư nhà thầu yêu cầu lấy tất cả dữ liệu gốc của các nhân chứng.

Minh Viễn đáp: “Dữ liệu công khai có thể cung cấp. Dữ liệu hạn chế tùy theo sự ủy quyền của từng người, chỉ công chứng viên và bên thứ ba mới được tra c/ứu. Dữ liệu đã rút lại không nằm trong vụ án này.”

“Vậy chúng tôi bào chữa thế nào?”

Công chứng viên nói rằng họ có thể đưa ra bằng chứng phản bác đối với các sự thật có thể x/ác minh, nhưng không vì thế mà được lấy thông tin cá nhân chưa được ủy quyền.

Mục cuối cùng là chế độ ghi chép niêm phong. Nguyệt Cầm đề xuất mỗi lần niêm phong, tháo niêm phong, niêm phong bổ sung đều phải lập hồ sơ phiên bản không thể ghi đ/è, bao gồm thời gian, lý do, x/ác nhận của hai người và mã băm hình ảnh; niêm phong giấy giữ lại vết cũ, không được dùng niêm phong mới che lấp để xóa đi lịch sử.

Minh Viễn bổ sung, lời khai của nhân viên và dữ liệu công thức thiết lập quyền hạn riêng, không tự động công khai vì mục đích bảo tồn di sản văn hóa.

Khi biểu quyết thông qua, không có tiếng vỗ tay nào vang lên.

Sau khi giải tán, mọi người lần lượt rời đi. Nguyệt Cầm thu xếp hộp tài liệu ở góc cửa, Minh Viễn đứng phía bên kia, không đưa tay giúp cô, chỉ hỏi: “Cần tôi giúp chuyển đến phòng lưu trữ không?”

“Không cần, tôi tự làm được.”

“Được.”

Anh không lộ vẻ thất vọng.

Nguyệt Cầm xách hộp lên, đi được hai bước rồi dừng lại: “Ngày mai bên thứ ba kiểm định lại, nếu cậu muốn tôi cùng xem quy trình, hãy gửi mục đích và thời gian cho tôi trước.”

Minh Viễn gật đầu: “Chị có thể từ chối.”

“Cậu cũng vậy.”

Hai người nhìn nhau qua một chiếc bàn dài. Đó không phải khoảnh khắc những hiểu lầm nhiều năm bỗng chốc tan biến, càng không giống cái kết phải ôm lấy nhau trong những câu chuyện gia tộc. Chỉ là hai người trưởng thành cuối cùng đã hiểu, hợp tác không phải là ai dọn dẹp hậu quả cho ai, cũng không phải ai xin lỗi trước thì có thể giành được đối phương. Chỉ khi biết nói không, thì lần nói có tiếp theo mới thực sự có ý nghĩa.

Cuối buổi công chứng, nhóm tài sản hỏi có nên đưa câu chuyện chín vò rư/ợu vào trưng bày di sản công nghiệp tương lai không. Nguyệt Cầm từ chối quyết định ngay, lý do là sự ủy quyền của lời khai nhân viên và công thức gia tộc chỉ kéo dài đến khi kết thúc quy trình truy c/ứu trách nhiệm. Minh Viễn ủng hộ cô, đề nghị nếu sau này thực sự tổ chức triển lãm, phải lấy lại sự đồng ý từng trường hợp, không được dùng lại sự ủy quyền của cuộc điều tra lần này. Nghị quyết kèm theo này được ghi vào biên bản họp: bảo tồn hiện vật không đồng nghĩa với việc vĩnh viễn có được quyền kể chuyện. Nguyệt Cầm nhìn dòng chữ đó, nghĩ đến việc bốn năm trước điều khiến cô gi/ận nhất thực ra không phải là Minh Viễn xem sổ tay, mà là anh đã thay cô quyết định xem những cuốn sổ đó nên trở thành câu chuyện của ai.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Trước ngày niêm phong hầm rượu cũ Kim Môn, cô cùng người em họ trưởng thành truy tìm chín thẻ niêm phong lên men bị tráo đổi

Chương 9
Trước khi niêm phong hầm rượu tại nhà máy rượu lâu đời ở Kim Môn, nữ kiểm định viên men rượu 54 tuổi Hứa Nguyệt Cầm và người em họ là thanh tra thực phẩm Thái Minh Viễn - người từng vì tranh chấp quyền sở hữu công thức gia truyền mà cắt đứt quan hệ - đã phát hiện ra từ lớp sáp niêm phong, dây gai, đường cong độ ẩm và sổ ghi chép nguyên liệu của chín vò rượu cao lương rằng, một biện pháp xử lý tình thế khi mất điện trước đây đã bị nhà thầu lạm dụng suốt nhiều năm, khiến loại rượu chưa đủ tuổi bị trộn lẫn vào các mẻ rượu quý. Trong quá trình cùng nhau truy tìm bằng chứng, cả hai đã học lại cách tôn trọng nhân viên, các tư liệu gia đình và ranh giới ủy quyền của nhau; khi chuông báo động nồng độ cồn vang lên, họ đã từ bỏ việc cứu các mẫu thử để lập tức sơ tán và báo cáo. Tại buổi công chứng niêm phong hầm rượu, Nguyệt Cầm thừa nhận mình từng ký vào biên bản bàn giao dù lấy mẫu không đủ, còn Minh Viễn cũng thú nhận đã sử dụng ghi chép của chị họ mà chưa được phép. Cuối cùng, chín vò rượu được cách ly theo khu vực, thực hiện kiểm định lại bởi bên thứ ba, truy cứu trách nhiệm nhà thầu và thiết lập hệ thống ghi chép niêm phong không thể ghi đè. Hai chị em họ chỉ duy trì sự hợp tác chuyên môn ở mức hạn chế, có quyền từ chối và phải xin phép lại mỗi khi bắt đầu một công việc mới.
0