Cơn mưa mùa đông ở Nghi Lan đã tạnh được nửa ngày, nhưng những bức tường bên ngoài phòng thí nghiệm lâm nghiệp cũ vẫn còn đọng lại hơi ẩm. Khi Du Chính Hùng khiêng chiếc thùng đựng thiết bị bằng nhôm cuối cùng ra hành lang, từ trong phòng ổn nhiệt phát ra tiếng rít khe khẽ của bánh xe cọ xát trên mặt sàn. Phòng thí nghiệm đã hoạt động hơn ba mươi năm này sẽ chuyển đi vào cuối tháng, các mẫu gỗ, hồ sơ sấy khô và mẫu lưu của các công trình công cộng đều phải được kiểm kê lại từ đầu.
Chính Hùng năm mươi sáu tuổi, đã làm công tác kiểm định gỗ ở đây hai mươi bảy năm. Ông vốn tưởng rằng việc khó nhất là phân loại đường đi của các tài liệu cũ, không ngờ vừa đẩy cửa phòng ổn nhiệt ra, ông đã nhìn thấy Du Hân Nghi đang đứng trước giá mẫu.
“Cháu được nhóm thẩm định đ/ộc lập ủy thác,” Hân Nghi lên tiếng trước.
Cô gái ba mươi ba tuổi mặc chiếc áo khoác bảo hộ màu tối thường thấy ở các kỹ sư kết cấu, trước ngựk không đeo thẻ nhân viên phòng thí nghiệm mà chỉ có một chiếc thẻ khách tạm thời. Lần cuối cùng hai chú cháu nói chuyện riêng là hai năm trước. Khi đó, Hân Nghi công khai chất vấn chuỗi lấy mẫu kiểm định khả năng chịu chấn động của một lô cấu kiện gỗ tại một buổi tọa đàm về công trình công cộng. Chính Hùng ngồi dưới khán đài, bị câu nói “có người coi việc thiếu dữ liệu là không có vấn đề gì” của cô dồn ép đến mức suốt đêm đó không dám về nhà.
Chính Hùng không hỏi vì sao cô lại nhận vụ này, chỉ đặt danh mục di dời trong tay lên mặt bàn: “Trước tiên xem cái gì?”
Hân Nghi rõ ràng không ngờ ông lại trả lời như vậy. Cô khựng lại một chút, chỉ vào mười mẫu gỗ dài khoảng bốn mươi phân trên giá: “Mười mẫu này. Số hiệu không khớp với dữ liệu nghiệm thu công trình.”
Mỗi miếng gỗ đều được phủ một lớp sáp mỏng, bên cạnh dán những nhãn số cũ đã phai màu, nhưng mã số trên danh mục di dời mới lại là một hệ thống khác. Hân Nghi xoay máy tính bảng về phía mình, không đưa cho chú xem mà hỏi: “Cháu có thể đặt kết quả đối chiếu lên bàn để cùng xem được không?”
Chính Hùng nhận ra cô đang cố tình hỏi trước. Ông gật đầu.
Miếng thứ nhất ghi là mẫu gỗ sam Đài Loan, nhưng hình ảnh vòng năm lại cho thấy tỷ lệ gỗ sớm và gỗ muộn của một loại gỗ khác; độ ẩm của miếng thứ hai trong hồ sơ gốc là 12,8%, nhưng phụ lục nghiệm thu công trình công cộng lại ghi là 9,6%; miếng thứ ba còn kỳ lạ hơn, hướng vết c/ưa ngược với bề mặt c/ắt ghi trong sổ lấy mẫu. Trong mười miếng, có bảy miếng xuất hiện ít nhất hai điểm mâu thuẫn.
“Cháu nghi ngờ có người tráo mẫu?” Chính Hùng hỏi.
“Cháu nghi ngờ có người tráo số,” Hân Nghi đáp, “Tráo số không nhất định đồng nghĩa với tráo gỗ. Cháu cần phải phân biệt rõ trước đã.”
Câu nói này khiến Chính Hùng nhớ đến cha cô, tức anh cả của ông. Khi còn trẻ, ông ấy luôn nói Hân Nghi làm việc gì cũng phải tách bạch trách nhiệm mới chịu đưa ra phán đoán. Trước đây Chính Hùng chê cô quá lạnh lùng, nhưng giờ lại thấy sự bình tĩnh này an toàn hơn thói quen của chính mình.
Ông rút biểu đồ sấy khô trong phòng ổn nhiệt ra. Về lý thuyết, mười mẫu gỗ được nhập kho thành ba đợt, nhưng biểu đồ chỉ có hai giai đoạn giảm độ ẩm rõ rệt, như thể có một đợt mẫu gỗ chưa bao giờ trải qua quá trình điều hòa độ ẩm hoàn chỉnh. Kiểm tra lại ảnh niêm phong trước khi di dời, vết nứt trên lớp sáp của mẫu gỗ thứ tư có hình chéo, nhưng vết nứt trên vật thể thực tế trước mắt lại có hình vòng tròn.
Hân Nghi lấy máy ảnh ra, nhưng tay lại khựng giữa không trung: “Ảnh gốc trong phòng này được tính là hồ sơ công việc của chú. Cháu có thể chụp hiện trạng, nhưng không chụp sổ tay cá nhân trên bàn của chú được không?”
Chính Hùng nhìn về phía cuốn sổ bìa đen ở góc bàn. Đó là những tình trạng bất thường mà ông tự ghi chép trong hơn hai mươi năm qua, không hề được lập danh mục chính thức. Hai năm trước, Hân Nghi từng đưa ảnh chụp một trang trong đó vào bài thuyết trình hội thảo, dù đã xóa tên nhưng ông vẫn nhận ra ngay lập tức.
“Có thể chụp mẫu gỗ và vị trí đặt trên giá,” ông nói, “Nhưng sổ tay thì không.”
“Vâng.”
Từ “vâng” đó rất ngắn gọn, nhưng lại khiến lồng ngựk Chính Hùng nhẹ nhõm hơn một chút.
Họ bắt đầu từ miếng đầu tiên, dùng thước giấy đo khoảng cách vết c/ưa, đối chiếu vị trí niêm phong sáp với đường nét vòng năm vẽ tay trong sổ lấy mẫu. Đến miếng thứ mười, Hân Nghi đột nhiên phát hiện ở đáy hai miếng gỗ đều có vết va chạm hình b/án nguyệt, giống như từng được đặt trong cùng một chiếc thùng vận chuyển bị vỡ.
“Đây không phải chuyện mới xảy ra gần đây,” cô nói.
Chính Hùng nhìn vết va chạm, trong đầu hiện lên một lần gửi mẫu công trình mười hai năm trước. Năm đó vùng núi Tô Áo mưa lớn, xe chở mẫu phanh gấp trên đường công nghiệp, một chiếc thùng gỗ bị va đ/ập nứt vỡ. Người phụ trách nhận mẫu lúc đó là nghiên c/ứu viên Trần Văn Hiền đã nghỉ hưu.
Ông không nói ngay ký ức đó ra, mà chỉ lật danh mục di dời đến mã vụ án cũ: “Trước tiên tìm phiếu bàn giao gốc.”
Hân Nghi nhìn ông: “Chú nhớ ra điều gì à?”
“Nhớ ra một việc có thể ảnh hưởng đến phán đoán,” Chính Hùng nói, “Nhưng chú muốn x/ác nhận trước, không muốn lấy ký ức làm bằng chứng.”
Lần này, đến lượt Hân Nghi gật đầu.
Bên ngoài, xe nâng khởi động, nhân viên di dời đang gọi số thùng tiếp theo. Chính Hùng lại treo thẻ “Tạm dừng di chuyển” lên tất cả mười mẫu gỗ, đồng thời ghi chú “Chờ thẩm định lại” trên hệ thống di dời. Điều đó có nghĩa là mười mẫu này hôm nay sẽ không vào kho mới, và tiến độ di dời cũng sẽ bị chậm lại.
Người quản lý ở cửa hỏi: “Anh Hùng, thực sự phải chặn lại sao?”
Chính Hùng nhìn Hân Nghi, không trả lời thay cô.
Hân Nghi nói: “Không phải cháu chặn, mà là dữ liệu mâu thuẫn cần được làm rõ trước.”
Chính Hùng bồi thêm một câu: “Việc tạm dừng là do chú phê duyệt.”
Hai chú cháu lần đầu tiên đứng về cùng một phía trong một sự việc, nhưng không phải ai đứng ra bảo chứng cho ai, mà là mỗi người tự nói rõ quyết định của mình. Mười mẫu gỗ nằm lặng lẽ dưới ánh đèn trắng của phòng ổn nhiệt, như mười con người bị tráo tên, đang chờ đợi ai đó tìm lại nơi chốn thực sự của chúng.