Những phiếu bàn giao giấy tờ của phòng thí nghiệm cũ nằm rải rác trong ba chiếc tủ. Chính Hùng nhờ nhân viên lưu trữ kiểm tra mục lục, x/ác nhận lô mẫu gỗ cho công trình công cộng mười hai năm trước vẫn nằm trong phạm vi có thể tra c/ứu, sau đó hai người cùng vào phòng lưu trữ. Hân Nghi không đụng vào sổ tay cá nhân của chú, chỉ lấy những hồ sơ chính thức.
Tài liệu đầu tiên họ tìm thấy là phiếu ghi nhận bất thường về việc nhận mẫu do Trần Văn Hiền viết tay năm đó. Mép giấy bị ẩm nên quăn lại, trên đó ghi rõ thùng vận chuyển bị vỡ giữa đường, nhãn giấy của hai miếng gỗ bị bong, sáp niêm phong bị nứt, ngày hôm đó đã tạm thời lưu trữ bằng số hiệu dự phòng, chờ ngày hôm sau x/ác nhận lại nguồn gốc.
“Tạm thay số hiệu,” Hân Nghi nói khẽ.
Chính Hùng chỉ vào dòng tiếp theo: “Còn mục bổ sung sau.”
Nhưng mục đó lại để trống.
Khoảng trống này đã biến biện pháp tạm thời của mười hai năm trước thành nghi vấn của hiện tại. Chính Hùng nhớ Trần Văn Hiền là người cẩn thận, nhưng cũng nhớ rằng những năm đó phòng thí nghiệm thiếu nhân lực trầm trọng, nhiều việc “ngày mai bổ sung” cuối cùng đều kéo dài thành “để sau rồi bổ sung”.
Họ tiếp tục kiểm tra sổ lấy mẫu gốc. Mười miếng gỗ lấy từ vài khu rừng nhân tạo hợp pháp ở vùng giáp ranh giữa Nghi Lan và Hoa Liên, trong đó địa chỉ đất và tên gia đình của ba chủ rừng được ghi chép vô cùng chi tiết. Khi Hân Nghi chuẩn bị quét tài liệu, Chính Hùng đặt tay lên nắp máy quét.
“Đây không phải dữ liệu công khai của công trình.”
Tay Hân Nghi lập tức rời đi: “Cháu biết. Cháu chỉ ghi lại số hồ sơ.”
“Trước đây cháu đưa sổ tay của chú vào bài thuyết trình, cũng từng nói sẽ không để người khác nhận ra.”
Cô im lặng hai giây: “Lần đó cháu sai rồi.”
Chính Hùng không ngờ cô lại nói thẳng như vậy. Hai năm trước, bài thuyết trình của cô gây ra sự nghi ngờ từ bên ngoài, cuối cùng chứng minh một số điểm nghi vấn là có cơ sở, nhưng trang sổ tay đó là những suy đoán ông ghi lại khi nội bộ còn chưa làm rõ, lại bị bên ngoài coi là “nhân viên kiểm định lão làng đã biết từ trước”. Vì vậy ông bị cấp trên gọi lên nói chuyện, cũng vì thế mà càng không muốn đối diện với cô.
“Chú không phải muốn cháu xin lỗi bây giờ,” ông nói.
“Cháu cũng không dùng lời xin lỗi để đổi lấy sự hợp tác của chú,” Hân Nghi trả lời, “Chúng ta hãy hỏi ý kiến các chủ rừng trước đã.”
Họ chia nguồn gốc liên quan đến mười miếng gỗ thành sáu vụ việc cần liên hệ. Đối với chủ rừng đã qu/a đ/ời, người quản lý đất hiện tại sẽ quyết định có tham gia hay không; đối với những người vẫn đang canh tác, họ đưa ra các lựa chọn như: công khai danh tính, ẩn danh, giới hạn nghiên c/ứu, trả lại dữ liệu hoặc rút lui hoàn toàn. Chính Hùng định nói “vì sự an toàn của công trình công cộng”, nhưng lời vừa đến đầu lưỡi lại dừng lại.
Buổi chiều, người phản hồi đầu tiên là ông Giản, một chủ rừng ở huyện Tam Tinh. Ông sẵn lòng cung cấp hồ sơ khai thác và xuất hàng năm đó, nhưng yêu cầu vị trí chỉ được dừng lại ở cấp xã huyện, không công khai địa chỉ đất, cũng không bàn về tình trạng n/ợ nần của gia đình năm xưa.
“Nhà cung cấp vật liệu trước đây từng đến hỏi chúng tôi n/ợ bao nhiêu tiền,” ông Giản nói qua điện thoại, “Chuyện đó không liên quan đến độ bền của gỗ.”
Hân Nghi trả lời: “Sẽ không đưa vào bằng chứng công khai.”
Chủ rừng thứ hai chọn không tham gia, yêu cầu trả lại bản vẽ tay khu rừng mà họ từng nộp cho phòng thí nghiệm. Chính Hùng phát hiện ra bản vẽ đó vốn chỉ để thuận tiện cho nghiên c/ứu viên tìm cây lấy mẫu, nhưng lại bị quét vào bản sao lưu phụ lục công trình.
“Chú sẽ xử lý việc hoàn trả,” Chính Hùng nói.
Hân Nghi hỏi: “Chú có thể quyết định xóa bản sao lưu không?”
“Không được,” ông khựng lại một chút, “Chú chỉ có thể đề xuất quy trình niêm phong và hoàn trả, để đơn vị quản lý dữ liệu xử lý.”
Đây là lần đầu tiên ông chủ động thừa nhận mình không có quyền quyết định cuối cùng. Hân Nghi không khen ngợi, chỉ ghi câu nói này vào hồ sơ công việc.
Chập tối, họ đối chiếu dữ liệu của sáu hộ gia đình, phát hiện trong mười miếng gỗ có ít nhất bốn miếng có ảnh vòng năm không khớp với ảnh lấy mẫu gốc. Không phải là loại gỗ hoàn toàn khác, mà giống như gỗ rác chất lượng thấp trong cùng một lô vật liệu đã bị tráo đổi thành mẫu lõi vốn dùng để nghiệm thu.
“Nếu chỉ tráo số hiệu, vòng năm không nên thay đổi,” Hân Nghi nói.
Chính Hùng trải danh sách gửi mẫu của nhà cung cấp năm đó ra. Đơn vị cung cấp là một công ty đã đổi tên hai lần, người phụ trách hiện tại tên là Cao Cảnh Long. Từ mười năm trước, họ liên tiếp trúng thầu ba công trình công cộng kết cấu gỗ tại các huyện thị.
“Số hiệu thay thế tạm thời của Trần Văn Hiền có lẽ chỉ là điểm khởi đầu,” Chính Hùng nói.
Hân Nghi nhìn ông: “Trước đây chú từng làm công tác thẩm định cho dự án của Cao Cảnh Long?”
“Từng làm.”
“Có chuỗi bàn giao hoàn chỉnh không?”
Chính Hùng không né tránh: “Ít nhất có một vụ là không.”
Trong phòng chỉ còn tiếng vận hành đều đặn của máy hút ẩm. Ông biết câu nói này sẽ đưa chính mình vào cuộc điều tra, cũng biết Hân Nghi là người dễ bị gia tộc chỉ trích là “đến chú mình cũng không tha”.
“Phần này cháu điều tra đi, chú không tự đá/nh giá báo cáo mình đã ký,” Chính Hùng nói.
Hân Nghi lại lắc đầu: “Cháu có thể điều tra, nhưng chú vẫn phải giải thích cách chú đá/nh giá năm đó. Không phải là đẩy trách nhiệm cho cháu.”
Ông nhìn cô, chợt hiểu ra điều cô thực sự bận tâm chưa bao giờ chỉ là việc chú mình có bao che hay không, mà là người lớn luôn nói “người trẻ xử lý là được rồi” mỗi khi sự việc trở nên khó coi, đồng nghĩa với việc đẩy cả gánh nặng trách nhiệm sang cho người khác.
Chính Hùng viết mã hồ sơ thẩm định của mình lên bảng trắng: “Ngày mai kiểm tra cái này trước.”
Hân Nghi viết thêm bên cạnh: “X/ác nhận phạm vi dữ liệu có thể sử dụng trước.”
Họ không bắt tay, cũng không bàn về những tranh chấp trong quá khứ. Nhưng trên tấm bảng trắng đó, lần đầu tiên cùng lúc ghi lại những giới hạn và trách nhiệm của cả hai, thay vì việc ai tin ai.