Sáng ngày thứ ba, mưa lất phất rơi ở Nghi Lan. Chính Hùng và Hân Nghi chuyển mười mẫu gỗ đến bàn kiểm định, chỉ thực hiện kiểm tra không phá hủy. Mọi thao tác c/ắt gọt liên quan đến lấy mẫu đều tạm dừng, vì vẫn còn hai chủ rừng chưa phản hồi về việc đồng ý cho nghiên c/ứu sâu hơn.
Hân Nghi dùng máy đo độ ẩm cầm tay để so sánh bề mặt, còn Chính Hùng tra lại biểu đồ phòng sấy của mười hai năm trước. Nếu gỗ cấp thấp bị tráo vào giai đoạn sau, thứ dễ để lại dấu vết nhất không phải là ngoại quan, mà là quá trình biến đổi độ ẩm.
Độ ẩm bề mặt của miếng thứ năm tiệm cận với giá trị cân bằng trong phòng, về lý thuyết là không bất thường; nhưng hồ sơ sấy khô gốc của nó lại cho thấy nó từng trải qua quá trình xử lý nhiệt độ cao ở giai đoạn cuối, theo lẽ thường thì độ dốc độ ẩm giữa lớp trong và lớp ngoài phải để lại những thay đổi đặc trưng. Chính Hùng đối chiếu với dữ liệu kiểm tra không phá hủy lưu lại từ trước, sự khác biệt hiện rõ.
“Giống như chưa từng vào lò đó,” Hân Nghi nói.
“Hoặc là đã vào lò khác,” Chính Hùng đáp.
Họ tiếp tục kiểm tra hồ sơ hiệu chuẩn thiết bị. Năm đó, đầu dò nhiệt độ và độ ẩm của phòng sấy từng được thay một lần, nhưng ngày thay thế lại muộn hơn lô mẫu này, nên không thể giải thích bằng sai số thiết bị. Điểm mấu chốt hơn là khoảng cách vết c/ưa của hai miếng gỗ không khớp với loại c/ưa vòng cũ của phòng thí nghiệm, mà lại gần giống với vết c/ưa đĩa thường dùng ở các xưởng gia công của nhà cung cấp vật liệu.
Buổi trưa, Cao Cảnh Long chủ động gọi điện đến.
“Ông Du, nghe nói lúc chuyển dời các ông giữ lại vài mẫu cũ à?” Giọng ông ta rất thân mật, như thể chỉ là hỏi thăm xã giao, “Đồ từ hơn chục năm trước, giờ dùng thiết bị mới đo thì con số đương nhiên sẽ chênh lệch rồi.”
Trước khi bật loa ngoài, Chính Hùng nhìn Hân Nghi. “Điện thoại công việc, cháu có đồng ý cùng nghe không?”
Cô gật đầu.
“Ông Cao, chúng tôi hiện chỉ x/ác nhận dữ liệu không nhất quán, vẫn chưa đưa ra kết luận,” Chính Hùng nói.
“Hạn di dời đến rồi, đừng vì vài miếng gỗ mà lỡ việc công. Công trình năm đó đều đã nghiệm thu xong xuôi cả rồi.”
Hân Nghi không chen lời. Mãi cho đến khi Chính Hùng kết thúc cuộc gọi, cô mới nói: “Ông ta biết chúng ta đang kiểm tra mười miếng nào.”
Chính Hùng cũng nhận ra điều đó. Họ chưa hề công bố số lượng ra bên ngoài, bộ phận phụ trách di dời cũng chỉ nhận được thông báo “một số mẫu tạm dừng di chuyển”.
“Có người đã tiết lộ thông tin nội bộ cho ông ta,” Chính Hùng nói.
Hai người không vội vàng tìm “kẻ nội gián”, mà liệt kê danh sách những người có thể tiếp cận danh sách tạm dừng trong hai ngày gần đây, tránh việc biến nghi ngờ thành buộc tội. Hân Nghi đề nghị thu hẹp quyền truy cập dữ liệu, còn Chính Hùng đi nhờ người quản lý chuyển hồ sơ tra c/ứu của mười mẫu gỗ sang chế độ đăng nhập kép.
Buổi chiều, một chủ rừng đã nghỉ hưu họ La phản hồi rằng ông đồng ý tham gia, nhưng giới hạn dữ liệu chỉ được dùng để làm rõ nguồn gốc mẫu, không được mở rộng sang nghiên c/ứu lâm nghiệp. Trong bức ảnh cũ ông gửi đến, mặt c/ắt của lô gỗ xuất hàng năm đó có một đường khoáng vật màu đen tự nhiên. Loại đường vân này không ảnh hưởng đến đặc tính kết cấu, nhưng lại hiếm gặp như dấu vân tay.
Đường khoáng vật trong ảnh trùng khớp hoàn toàn với miếng mẫu thứ bảy.
Vấn đề là, miếng thứ bảy hiện đang treo số hiệu của một hộ khác.
“Điều này chứng minh có việc tráo số,” Hân Nghi nói.
Chính Hùng lại đặt bức ảnh xuống: “Chỉ chứng minh nhãn hiện tại sai, không có nghĩa là công trình năm đó đã dùng vật liệu không đạt chuẩn.”
Hân Nghi nhìn ông: “Chú sợ cháu nhảy cóc đến kết luận à?”
“Chú cũng sợ chính mình lùi bước.”
Câu nói này khiến cả hai đều im lặng.
Chập tối, họ cuối cùng cũng tìm thấy báo cáo thẩm định mà Chính Hùng đã ký năm đó. Báo cáo chỉ đính kèm ảnh của ba mẫu được rút thăm, không có chuỗi bàn giao hoàn chỉnh từ kh//âu lấy mẫu của nhà cung cấp, vận chuyển đến kh//âu nhận mẫu của phòng thí nghiệm. Chữ ký của Chính Hùng nằm ở trang cuối, bên cạnh ghi “Số liệu phù hợp”.
Hân Nghi hỏi: “Lúc đó chú có biết chuỗi bàn giao không đầy đủ không?”
“Biết thiếu một phiếu bàn giao,” ông nói, “Người phụ trách bảo hôm sau sẽ bổ sung. Chú thấy dữ liệu của ba mẫu đều đạt nên ký trước.”
“Sau đó có bổ sung không?”
“Chú không theo sát.”
Ông không thêm vào câu “lúc đó rất bận” hay “ai cũng làm vậy cả”. Hân Nghi cũng không tìm lý do thay cho ông.
“Việc này phải đưa vào giải trình cuối cùng,” cô nói.
Chính Hùng gật đầu: “Để chú tự nói.”
Ông lấy cuốn sổ bìa đen mà trước giờ chưa từng để cô đụng vào. Bìa sổ đã mòn bóng.
“Trong này có những suy đoán cá nhân của chú về vụ này năm đó. Nếu cháu cần, chú có thể đá/nh dấu trước những trang nào chú đồng ý cho cháu xem, trang nào không.”
Hân Nghi không nhận ngay: “Mục đích chỉ giới hạn trong việc kiểm tra mười miếng này thôi chứ?”
“Đúng.”
“Trích dẫn phải hỏi lại một lần nữa?”
“Đúng.”
Lúc này cô mới nhận lấy cuốn sổ.
Hai năm trước, cô từng coi “có thể nhìn thấy” là “có thể trích dẫn”; mười hai năm trước, Chính Hùng từng coi “số liệu đạt” là “thủ tục có thể bổ sung sau”. Khác thế hệ, khác vai trò, nhưng hai người thực chất đã phạm phải sai lầm tương tự: đều thay người khác quyết định điều gì là không quan trọng.
Ngoài cửa sổ, mưa nặng hạt hơn, kính phòng ổn nhiệt phủ một lớp sương mờ. Chính Hùng chép giá trị vận hành của thiết bị hút ẩm vào bảng di dời, Hân Nghi thêm một cột bên cạnh: “Trạng thái đồng ý sử dụng dữ liệu”.
Mười miếng gỗ vẫn chưa có câu trả lời, nhưng họ bắt đầu hiểu ra rằng, thứ thực sự cần sửa chữa không phải là những con số, mà là từng lằn ranh giới hạn đã từng bị bỏ qua.