Chỉ có sáu trang trong cuốn sổ tay mà Chính Hùng cho phép Hân Nghi xem. Cô đeo găng tay cotton mỏng, lật từng trang một, không chụp ảnh, chỉ ghi chép những sự thật có thể trích dẫn vào giấy làm việc của mình.
Trang thứ năm viết: “Thùng gửi mẫu bị vỡ, Trần Văn Hiền tạm thời nhận mẫu bằng số hiệu dự phòng A, B, chờ x/ác minh nguồn gốc gốc.” Trang thứ sáu ghi: “Cao Cảnh Long gọi điện thúc giục kiểm định, nói rằng công trình sắp lắp đặt.”
Đáng lẽ sau đó còn một trang nữa, nhưng ở chỗ đóng gáy sách lại để lại vết x/é.
Hân Nghi khựng lại: “Trang này là chú x/é à?”
Chính Hùng nhìn một lúc lâu: “Không phải.”
Ông nhớ cuốn sổ đó từng có một khoảng thời gian để trong ngăn kéo chung của phòng thí nghiệm, đến vài năm sau mới đem về nhà. Trang bị x/é có thể là trang trắng, cũng có thể không. Ông không muốn dựa vào ấn tượng để biến nó thành bằng chứng.
Hai người chuyển sang kiểm tra bản sao lưu email cùng thời kỳ. Máy chủ cũ đã bị loại bỏ, phòng thông tin chỉ giữ lại một phần ảnh đĩa sao lưu. Sau khi làm thủ tục tra c/ứu, họ tìm thấy bản tóm tắt một email Trần Văn Hiền gửi cho nhà cung cấp vật liệu, nội dung đề cập đến: “Hai mẫu thay đổi số hiệu tạm thời, sau khi kiểm định xong vui lòng khôi phục theo số hiệu mẫu gốc.” Tệp đính kèm đã bị hỏng, nhưng đủ để chứng minh việc thay đổi tạm thời vốn dĩ phải được khôi phục.
“Vậy là Trần Văn Hiền không thiết kế lỗ hổng,” Hân Nghi nói.
“Ít nhất thì bức thư này trông không phải là như vậy.”
Một email khác ba tháng sau đó do công ty của Cao Cảnh Long phản hồi, đề cập đến việc: “Tiếp tục sử dụng phương thức đối chiếu hiện có có thể tiết kiệm thời gian gửi mẫu.” Người nhận không phải là Trần Văn Hiền, mà là bộ phận hành chính phụ trách x/ác minh vật liệu công trình lúc bấy giờ.
Lòng Chính Hùng chùng xuống. Biện pháp tạm thời đã bị bên thầu hiểu thành quy trình có thể sao chép.
Buổi chiều, bà Liêu, người vẫn đang kinh doanh rừng nhân tạo ở Đông Sơn, đến phòng thí nghiệm. Bà mang theo bản sao lấy mẫu mà cha mình để lại, nhưng vào thẳng vấn đề: “Tôi không muốn công khai địa chỉ đất, cũng không muốn người khác biết chuyện gia đình n/ợ ngân hàng năm đó. Các người chỉ cần dữ liệu gỗ, thì chỉ bàn về gỗ thôi.”
Hân Nghi trả lời: “Được ạ. Bà cũng có thể rút lui giữa chừng.”
Bà Liêu lại nhìn sang Chính Hùng: “Ông cũng ở đó năm đó đúng không?”
Chính Hùng không né tránh: “Tôi từng làm một lần thẩm định cho lô công trình này, nhưng không có chuỗi bàn giao hoàn chỉnh. Lần này tôi sẽ liệt kê những thiếu sót của mình vào phần giải trình.”
“Vậy thì tốt,” bà nói, “Đừng để cuối cùng chỉ bắt một người đã nghỉ hưu ra chịu tội.”
Bà cho phép sử dụng trọng lượng xuất hàng, loài cây và ảnh chụp, nhưng cấm công khai dữ liệu tài chính. Hân Nghi đọc lại nội dung ủy quyền ngay tại chỗ, x/ác nhận không thêm bất kỳ mục nào.
Sau khi bà Liêu rời đi, Chính Hùng hỏi: “Trước đây cháu làm giám định kết cấu cũng đều hỏi từng điều một như vậy sao?”
“Trước đây không ạ,” Hân Nghi nói, “Là sau khi cháu công khai sổ tay của chú thì cháu mới học được.”
Đây là lần đầu tiên cô chủ động nhắc đến chuyện đó, không chỉ nói “cháu sai rồi”, mà còn nói cách nó thay đổi cô.
“Sau bài thuyết trình đó, cháu cảm thấy mình đã phơi bày một rủi ro, nên đương nhiên cho rằng th/ủ đo/ạn có thể được tha thứ,” cô nói, “Sau đó có người lấy ảnh chụp trang sổ tay đó để truy tìm dữ liệu nhà chú, cháu mới biết mình đã chuyển rủi ro sang người khác.”
Chính Hùng dựa vào cạnh bàn, không nói “chuyện đã qua rồi” thay cho cô.
“Lúc đó chú cũng coi sự chất vấn của cháu là không hiếu thảo,” ông nói, “Cháu là vãn bối, nên chú cảm thấy cháu không nên hỏi ở bên ngoài. Chú đã không trả lời nội dung cháu hỏi trước.”
Hân Nghi cúi đầu nhìn giấy làm việc: “Nhà chúng ta giỏi nhất là trộn lẫn các vấn đề khác nhau vào nhau.”
Câu nói này khiến Chính Hùng mỉm cười một chút, rất ngắn, không có ý nghĩa hòa giải, nhưng nhẹ nhàng hơn sự im lặng của vài ngày qua.
Buổi chiều, họ đối chiếu thành phần sáp niêm phong của mười mẫu gỗ. Sáp niêm phong phòng thí nghiệm cũ sử dụng năm đó hơi giòn, còn loại sáp nhà cung cấp dùng sau này có thêm nhiều nhựa hơn, vết nứt nhỏ và dày đặc. Lớp ngoài sáp niêm phong của miếng thứ tám, thứ chín trông có vẻ lão hóa, nhưng lớp trong lại có độ dẻo dai mới hơn.
“Niêm phong lần hai,” Chính Hùng nói.
Hân Nghi dùng kính lúp nhìn cạnh c/ắt, không cạo lấy bất kỳ mẫu nào: “Muốn phân tích thành phần, phải x/ác nhận xem chủ sở hữu của hai miếng này có đồng ý lấy mẫu phá hủy hay không.”
Một trong số đó vẫn chưa phản hồi. Vì vậy họ chỉ chụp hiện trạng, không động vào.
Đêm đó, quản lý di dời thúc giục tiến độ, hỏi liệu có thể đưa mười mẫu gỗ vào kho mới trước rồi kiểm tra sau không. Chính Hùng nhìn thời hạn còn chưa đầy một tuần, lần đầu tiên cảm thấy áp lực thực sự đ/è nặng lên mình.
“Đưa qua đó sẽ làm thay đổi môi trường bảo quản, cũng sẽ làm tăng các nút bàn giao,” Hân Nghi nói, “Đề nghị của cháu là không di chuyển.”
Người quản lý nhìn Chính Hùng: “Ông là nhân viên lâu năm, ông quyết định đi.”
Chính Hùng lại nói: “Không phải vì tôi thâm niên mà có thể quyết định. Mười miếng này hiện đã được liệt vào vật chứng thẩm định lại, theo quy trình phải có sự x/ác nhận chung của quản lý di dời, quản lý mẫu và bên thứ ba.”
Hân Nghi không nhìn ông, nhưng cây bút trên tay cô khựng lại một nhịp.
Họ quyết định niêm phong tại chỗ, cử nhân viên di dời khác xử lý các mẫu khác. Trên bảng tiến độ vì thế mà thêm một vạch đỏ trì hoãn.
Đêm đó trước khi về nhà, Chính Hùng chợt nhớ trang bị x/é kia có thể từng ghi một câu: Cao Cảnh Long từng yêu cầu “bốc trúng miếng nào thì xem miếng đó, không cần cả chuỗi”. Ông vẫn không viết nó vào hồ sơ, chỉ ghi chú trong sổ tay cá nhân là “Chờ x/ác minh từ các nguồn khác”.
Lần này, ông không để ký ức thay bằng chứng lấp đầy chỗ trống nữa.