Sáng thứ năm, Chí Minh nhận được phản hồi từ ngư dân Hứa Thiêm Phúc ở Vọng An. Trong kho của ông Phúc vẫn còn giữ một mẩu lưới cố định cũ được tháo ra từ tám năm trước, vốn định dùng để vá lồng cá. Ông đồng ý cho viện kiểm định mượn để đối chiếu không phá hủy; nếu muốn c/ắt sợi để thử nghiệm lực kéo, phải xin ý kiến riêng và mẫu vật cuối cùng phải được hoàn trả.
Hai người đi tàu đến Vọng An để lấy mẫu. Gió biển thổi rất mạnh, ông Phúc đứng bên cầu cảng đưa chiếc túi zip cho Nhã Văn, sợi lưới trong túi đã bạc màu thành màu xám trắng. Nhã Văn không tháo ra tại chỗ, chỉ đối chiếu niêm phong và hồ sơ nguồn gốc.
Ông Phúc nói: “Lần đ/ứt lưới đó, tôi n/ợ cửa hàng vật liệu hơn một triệu, chuyện này đừng viết ra ngoài.”
Chí Minh đáp: “N/ợ nần không nằm trong phạm vi x/ác minh.”
“Còn chuyện vợ tôi lúc đó bị b/ệnh nữa.”
“Cũng sẽ không đưa vào.”
Ông Phúc nhìn anh một cái: “Trước đây các người nói về bảo tồn biển, cứ như thể ngư dân cái gì cũng phải khai báo vậy.”
Chí Minh không biện hộ, chỉ nói: “Lần này khác.”
Sau khi về Mã Công, Nhã Văn dùng kính phân cực để quan sát mẩu lưới cũ. Bên trong sợi có các tinh thể không đồng nhất rõ rệt, đường kính sợi cũng nhỏ hơn mẫu nghiệm thu khoảng một phần mười. Dù không thể chỉ dựa vào ngoại quan để khẳng định độ bền, nhưng sự khác biệt đã đủ lớn để ủng hộ việc kiểm định lại lực kéo bởi bên thứ ba.
Điểm mấu chốt hơn chính là điểm hàn nhiệt. Hạt nhựa nóng chảy của mẫu nghiệm thu có hình bầu dục dài và mảnh, trong khi mẩu lưới cũ lại hình dẹt, cho thấy thiết bị gia công khác nhau. Nhã Văn tìm lại danh mục gia công của nhà cung cấp năm đó, hai loại điểm hàn tương ứng với hai dây chuyền sản xuất khác nhau.
Chí Minh hỏi: “Điều này có thể chứng minh trung gian tráo hàng không?”
“Có thể chứng minh nguồn gốc khác nhau, nhưng không thể trực tiếp chứng minh ai là người tráo. Còn phải tìm luồng nhập hàng.”
Họ yêu cầu ba hộ ngư dân đồng ý tham gia cung cấp ảnh chụp giao hàng. Màu dây đai trong ảnh khác nhau, nhưng ở góc tấm pallet đều có vết nhãn dán cũ bị x/é đi. Chí Minh nhớ ra năm đó bên trung gian vật liệu đồng thời đại diện cho hai nhà máy, trong đó một nhà máy chuyên về vật liệu lưới nuôi trồng giá rẻ.
Buổi chiều, một thủ kho đã nghỉ hưu tên Hoàng Triều Khâm đồng ý nói chuyện. Ông chỉ chấp nhận ẩn danh và yêu cầu xóa file ghi âm sau khi x/ác minh kết thúc. Chí Minh đặt máy ghi âm lên bàn nhưng chưa nhấn nút: “Ông nói có thể bắt đầu, tôi mới ghi.”
Sau khi ông Khâm gật đầu, anh mới nhấn nút.
“Trung gian lúc đó bảo chúng tôi phân loại lại hàng từ bến cảng,” ông Khâm nói, “Ông ta bảo mẫu nghiệm thu đã gửi viện kiểm định rồi, hàng tại hiện trường chỉ cần cùng quy cách, không cần kiểm tra lại.”
“Còn nhãn gốc trên bao bì thì sao?” Nhã Văn hỏi.
“Có cái bị tháo ra, có cái thì lồng trực tiếp vào túi mới.”
“Ông có thấy quy cách vật liệu không?”
“Không. Tôi chỉ nhớ có một lô sợi sờ vào thấy mềm hơn.”
Lời khai này không thể dùng làm bằng chứng kết luận đơn lẻ, nhưng lại trùng khớp với mẩu lưới cũ tại hiện trường. Sau khi ghi âm xong, ông Khâm x/ác nhận lại: “Đừng đưa giọng nói của tôi cho công ty bảo hiểm.”
Chí Minh nói: “Chỉ làm bằng chứng đối chiếu nội bộ. Nếu sau này cần trích dẫn, chúng tôi sẽ hỏi lại.”
Buổi tối về nhà, Nhã Văn nhận được điện thoại của mẹ. Mẹ nói cha bị đ/au đầu gối, hỏi hai người ai có thể đi cùng đến phòng khám. Trước đây Nhã Văn sẽ trực tiếp sắp xếp cho Chí Minh xin nghỉ một ngày, lần này cô chỉ hỏi: “Mẹ, cha muốn cả hai chúng con cùng đi, hay chỉ cần một người là được ạ?”
Mẹ hơi ngẩn người, nói một người là được.
Nhã Văn lại hỏi Chí Minh: “Thứ Năm chị có thể đi cùng. Nếu cậu muốn đi thì tự nói với cha.”
Chí Minh nhìn cô, bỗng nhiên mỉm cười: “Hôm nay chị cũng bắt đầu hỏi trước rồi.”
“Khó lắm sao?”
“Không khó. Chỉ là trước đây chúng ta đều thấy không cần thiết.”
Họ đều không biến câu nói này thành việc ai là người phạm lỗi trước.
Trước khi ngủ, Chí Minh tìm lại bản thuyết trình tọa đàm mà anh từng công khai ghi chép của Nhã Văn hai năm trước. Anh chụp màn hình gửi cho chị gái, hỏi: “Những trang này tôi muốn gỡ xuống. Chị đồng ý để tôi tự xử lý, hay là cần lưu lại hồ sơ?”
Nhã Văn xem rất lâu, trả lời: “Hãy lưu lại một bản ghi chép về việc gỡ xuống mà chỉ hai chúng ta thấy được, rồi mới gỡ. Đừng biến việc 'xóa đi' thành giả vờ như chưa từng xảy ra.”
Chí Minh trả lời: “Được.”
Đây là lần đầu tiên, họ coi lỗi lầm của đối phương cũng là điều cần lưu lại dấu vết phiên bản, thay vì mong chờ thời gian tự ghi đ/è lên đó.
Sáng sớm hôm sau, ông Phúc bổ sung thêm một điều kiện: trước khi gửi mẩu lưới cũ đi kiểm định ngoại vi, ông muốn xem ảnh niêm phong để x/ác nhận không bị c/ắt thêm. Nhã Văn thêm yêu cầu đó vào danh sách và hẹn đối chiếu qua video trước khi gửi hàng. Chí Minh cười bảo quy trình lại thêm một lớp, Nhã Văn đáp: “Lớp này không phải để phòng việc chúng ta bị kiện, mà là để chủ nhân của món đồ biết nó đang ở đâu.” Câu nói này khiến Chí Minh lần đầu tiên thực sự phân biệt rõ sự khác biệt giữa quản lý rủi ro và tôn trọng quyền của chủ sở hữu.
Trước khi gửi hàng, ông Phúc xem kỹ túi niêm phong và vị trí c/ắt qua video, cuối cùng chỉ nói một câu: “Cứ làm theo thế.” Sau khi cuộc gọi kết thúc, Nhã Văn mới ký đơn gửi hàng. Chí Minh nhận ra rằng, khi đương sự thực sự được đặt trở lại vào quy trình, việc x/ác minh không hề mất đi tính chuyên nghiệp, mà ngược lại còn có thêm một tầng ký ức chung có thể quay lại đối chiếu.