Ngày thông báo sáp nhập được dán lên cửa phòng thu, Lương Quốc Hoa cẩn thận phủ tấm vải chống bụi lên chiếc máy phát băng cối cũ kỹ nhất, rồi mới đi bê chín hộp băng gốc ở góc tường.
Ánh nắng buổi chiều ở Đài Trung xuyên qua cửa chớp tầng hai của thư viện chữ nổi cũ, chiếu lên mép hộp giấy khiến chúng trắng bệch ra. Đây vốn là phòng thu âm của tình nguyện viên, lớp mút cách âm trên tường đã bong tróc, ngoài hành lang chất đầy những cuốn sách chữ nổi chuẩn bị chuyển sang thư viện mới. Quốc Hoa, 58 tuổi, đã có 30 năm kinh nghiệm thu âm sách nói; ông biết rõ hộp băng nào từng bị kẹt, người đọc nào có thói quen gõ nhẹ lên mặt bàn trước khi lấy hơi. Ông cứ ngỡ tuần cuối cùng chỉ còn là việc đối chiếu danh mục, cho đến khi con gái Lương Tư Dư đặt hộp thứ sáu xuống dưới ánh đèn.
“Bố, bố nhìn cái nhãn này đi.”
Tư Dư, 32 tuổi, không đưa hộp băng cho ông mà chỉ xoay đèn bàn về phía đó. Cô hiện là biên tập viên xuất bản tiếp cận, hai năm trước đã dọn ra ở riêng và cũng hiếm khi còn “tiện tay giúp đỡ” những việc mà bố cô vẫn gọi là “việc vặt” ở thư viện nữa.
Trên mặt hộp ghi là băng gốc bản thứ hai của “Tản bộ ven sông”, nhưng nhãn giấy lại đ/è lên một lớp mép băng dính bị x/é dở. Quốc Hoa dùng nhíp gỡ một góc đã bong ra, bên dưới lộ ra lớp giấy sợi màu xanh của một thời đại khác.
“Trước đây bị ẩm nên thay hộp, chuyện này thường lắm,” ông nói.
Tư Dư nhìn ông, không đáp. Cô mở danh sách ủy quyền kỹ thuật số dùng cho việc sáp nhập, rồi lật sổ mượn sách. Danh sách ghi người đọc Lâm Thục Huệ ủy quyền cho tất cả các nền tảng công ích sử dụng vĩnh viễn; thế nhưng sổ mượn lại ghi chép, hộp băng đó từng được một công ty sản xuất kỹ thuật số mượn trong hai tháng vào 13 năm trước. Kỳ lạ hơn nữa, bên cạnh hộp băng có hai chỗ nối băng, thời gian và vị trí hoàn toàn khác với bản c/ắt ghép kỹ thuật số hiện tại.
Quốc Hoa đeo tai nghe lên nghe thử. Tiếng nhiễu nền ban đầu là tiếng rít ổn định của băng từ, sau hơn chín phút bỗng nhiên mỏng đi, rồi lại khôi phục ở cuối đoạn văn. Ông tháo tai nghe xuống.
“Đây không phải bản tôi c/ắt hồi đó.”
“Bố chắc chứ?”
“Tôi nối băng luôn để lại góc chéo, hai chỗ này là c/ắt thẳng.”
Tư Dư không viết thẳng câu này thành kết luận, chỉ đá/nh dấu là “chờ đối chiếu”. Cô xếp tám hộp còn lại lên bàn. Giấy nhãn của chín hộp thuộc các thời kỳ khác nhau, trong đó bốn hộp có dấu vết dán lại, ba hộp có số hiệu không khớp với sổ mượn, còn hai hộp khác được ghi cùng một người đọc trong danh sách ủy quyền kỹ thuật số.
Cô hỏi: “Sau khi sáp nhập có phải chuẩn bị đưa tất cả lên nền tảng thư viện mới không?”
“Vốn dĩ là vậy.”
“Vậy thì dừng lại trước đã.”
Quốc Hoa vô thức nhíu mày. “Thời hạn chỉ còn—”
Nói được một nửa, ông tự dừng lại. Ba năm trước cũng vậy. Thư viện bị chất vấn về việc có vài đợt thu âm chỉ có sự đồng ý bằng miệng, ông bảo vì là sử dụng công ích nên không cần làm nghiêm trọng hóa vấn đề; nhưng Tư Dư không thông qua ông đã tự ý đăng lời xin lỗi công khai trên cộng đồng làm việc của mình. Những dòng chữ đó khiến ông cảm thấy con gái đã thay ông nhận tội, còn Tư Dư thì tin rằng bố chỉ quan tâm đến thể diện của cơ quan.
Quốc Hoa đẩy chín hộp băng về giữa bàn, nhưng không chạm vào sổ ghi chép của con gái.
“Dừng lại trước. Để bố liên lạc với Lâm Thục Huệ.”
Tư Dư ngước mắt lên. “Bố định nói gì với cô ấy?”
Ông im lặng một lát. “Hỏi xem cô ấy có muốn nói chuyện không đã. Những chuyện khác, đợi cô ấy tự quyết định.”
Chiều hôm đó, khi Lâm Thục Huệ bắt máy, câu đầu tiên bà hỏi không phải về băng gốc, mà là: “Sao các người lại muốn dùng giọng của tôi nữa vậy?”
Lưng Quốc Hoa cứng đờ.
Ông không nói “chỉ là công ích”, cũng không nói “hồi đó ai cũng làm thế”. Ông chỉ trả lời: “Chúng tôi phát hiện phiên bản và ủy quyền không khớp nhau. Cô có thể không tham gia, cũng có thể chỉ cho chúng tôi biết trước đây cô đã đồng ý những gì.”
Đầu dây bên kia im lặng vài giây.
“Tôi có thể đến, nhưng đừng thu âm lời tôi nói.”
“Được.”
Sau khi cúp máy, Tư Dư ghi hạn chế này vào biên bản liên lạc. Cô lại hỏi: “Dữ liệu của những người khác, con có thể xem không?”
Câu hỏi này ngược lại khiến Quốc Hoa sững sờ. Rõ ràng cô đã ngồi trước hồ sơ rồi mà vẫn hỏi trước.
“Có thể xem danh sách công việc, số điện thoại cá nhân bố sẽ che đi trước.”
“Được.”
Hai người không vì thế mà gần gũi hơn. Quốc Hoa đi tìm giấy che, Tư Dư bọc chín hộp băng vào các túi giấy không axit để chờ tạm dừng chuyển đi. Ngoài cửa sổ, xe buýt chạy qua ngã tư đường Tự Do, âm thanh vang vọng từ xa qua khung cửa sổ cũ.
Cuối cùng, cô viết lên bảng trắng quy tắc chung đầu tiên: X/ác định ai có quyền quyết định trước, rồi mới bàn đến việc bảo tồn.
Quốc Hoa nhìn thoáng qua, không thêm chữ nào.
Chín hộp băng vẫn nằm lặng lẽ trên bàn. Thứ thực sự được mở ra lần nữa, dường như lại là câu hỏi mà suốt nhiều năm qua, cả hai cha con đều tưởng rằng mình có quyền thay đối phương trả lời.
Ngày hôm sau, Tư Dư yêu cầu chuyển chín hộp băng ra khỏi danh sách sáp nhập thông thường, đổi thành “Quyền hạn chờ x/ác nhận”. Quốc Hoa vốn lo lắng ghi chú này sẽ khiến người ở thư viện mới hiểu lầm rằng toàn bộ băng gốc đều có vấn đề, nhưng cuối cùng vẫn đồng ý và bổ sung thêm một ghi chú kỹ thuật: Trạng thái vật lý có thể bảo tồn, không có nghĩa là quyền sử dụng đã được x/ác nhận. Đây là lần đầu tiên hai người tách “có thể bảo tồn” và “có thể sử dụng” thành hai việc riêng biệt.