Đêm danh sách thi lại được dán lên, Thẩm Thư Lan đã đứng trước cửa xưởng rất lâu.
Tên cô nằm ở dưới cùng, phía sau ghi chữ "Đạt".
Đây vốn nên là khoảnh khắc cô trút được gánh nặng lớn nhất trong nửa năm qua. Ban ngày cô làm nhân viên quầy và dọn dẹp đơn giản ở một tiệm vàng chuỗi, tối đến lại vội vã chạy tới lớp đào tạo người lớn để học phục chế kim loại và trang sức. Cô muốn chuyển nghề, muốn lấy chứng chỉ chuyên nghiệp, thứ cô thiếu nhất không phải là nhiệt huyết, mà là một kinh nghiệm thực tập được công nhận bởi một xưởng lưu trữ hiện vật thực thụ.
Suất thực tập bảo tàng duy nhất của lớp sẽ được quyết định sau kỳ thi lại lần này.
Khi cô đẩy cửa bước vào, giảng viên hướng dẫn Hàn Kính Chi đang thu dọn dụng cụ. Trên bàn đặt một email giới thiệu vừa mới in ra.
Thư Lan vốn chỉ định hỏi khi nào có thông báo, nhưng ánh mắt lại rơi vào dòng dưới tên người nhận.
Học viên được đề cử: Chu Dĩ Khiêm.
Cả người cô khựng lại.
Chu Dĩ Khiêm là học viên cũ đã nghỉ học hai năm trước, năm nay mới quay lại học tiếp. Ai cũng biết cậu ta từng lao vào xưởng khi hỏa hoạn để khóa nguồn khí, còn kéo cả một tủ công cụ tinh vi ra khỏi vùng khói. Sau sự việc đó, cậu ta gần như trở thành một huyền thoại của cái xưởng này.
Thế nhưng Thư Lan nhớ rõ tháng trước thầy đã nói, đợt đề cử này sẽ xem xét "thành tích thực hành kỳ này, mức độ hoàn thành thi lại và tính đ/ộc lập của tác phẩm".
Cô thi lại được 88 điểm.
Dĩ Khiêm thậm chí còn không tham gia đợt đá/nh giá cùng đợt.
"Thầy ơi, thư đề cử đã gửi đi chưa ạ?" cô hỏi.
Hàn Kính Chi ngẩng đầu, nhìn thấy tờ thông báo thi lại cô vẫn đang nắm trong tay.
"Gửi rồi."
"Chẳng phải thầy nói sau khi thi lại mới quyết định sao?"
"Tôi có đợi điểm của em."
"Vậy tại sao lại là Chu Dĩ Khiêm?"
Hàn Kính Chi gấp khăn lau dụng cụ lại, giọng bình thản: "Cậu ấy cần cơ hội này hơn em."
Thư Lan không phản bác ngay.
"Cần" không phải là điều cô có thể phủ nhận.
Dĩ Khiêm phải bỏ học để chăm sóc người cha nằm liệt giường, sau khi đi học lại còn phải làm thêm để đóng học phí. Cô ít nhất vẫn còn một công việc ổn định.
Hàn Kính Chi nói tiếp: "Hơn nữa, năm đó cậu ấy đã c/ứu cả cái xưởng này. Không có cậu ấy, đống búa, giũa và kẹp mà em đang dùng đã sớm bị th/iêu rụi từ lâu rồi."
"Điều đó thì liên quan gì đến việc chấm điểm tác phẩm lần này?"
Thầy nhíu mày: "Thư Lan, làm người không thể chỉ nhìn vào bảng biểu."
Ngựk cô thắt lại.
Cô không phải muốn chỉ nhìn vào bảng biểu.
Nhưng nếu bảng biểu ngay từ đầu đã không có ý nghĩa, tại sao lại bắt cô thức đêm thi lại?
Cô dời tầm mắt sang tập hồ sơ tác phẩm bên cạnh bàn.
Mở trang thứ hai, tay cô lập tức cứng đờ.
Đó là một chiếc giá đỡ chống trượt cỡ nhỏ, dùng để cố định trang sức mỏng manh dưới kính hiển vi khi hàn tháo. Giá đỡ góc nghiêng, đệm Iót hai lớp, tấm định vị bằng đồng thau có thể thay thế-- tất cả đều là cấu trúc mà cô đã vẽ từ học kỳ trước.
Thế nhưng ghi chú trong tập tác phẩm lại là: Chu Dĩ Khiêm, cải tiến giá đỡ phục chế chống trượt.
"Đây là giá đỡ của em."
Hàn Kính Chi không phủ nhận: "Cái em làm là phiên bản đầu tiên."
"Tại sao lại đưa vào tập tác phẩm của cậu ấy?"
"Dĩ Khiêm đã sửa đổi phần đệm và phân tán áp lực, bảo tàng sẽ coi trọng phiên bản có thể sử dụng cuối cùng hơn."
"Vậy còn thiết kế gốc thì sao?"
"Em cũng có đóng góp."
Thư Lan nhìn ông.
"Vậy đóng góp của em là để cậu ấy lấy làm tác phẩm sao?"
Sắc mặt thầy trầm xuống: "Đừng nói chuyện khó nghe như vậy."
Đêm đó cô không đối chất với Dĩ Khiêm.
Cô quay lại bàn làm việc của mình, lấy hết ba tờ bản thảo ố vàng trong ngăn kéo ra. Góc dưới bên phải tờ thứ nhất có ghi ngày tháng của cô, tờ thứ hai là biên bản mượn dụng cụ, tờ thứ ba thậm chí còn lưu lại lời phê bằng bút đỏ của Hàn Kính Chi lúc đó: "Cấu trúc khả thi, đề nghị cải thiện bề mặt tiếp xúc."
Cô chụp ảnh từng tờ một.
Sau đó, cô đưa bảng điểm thi lại, ngày gửi email đề cử và phiên bản tập tác phẩm vào ghi chú trong điện thoại.
Niềm vui khi thi đỗ không hoàn toàn biến mất.
Chỉ là cô chợt nhận ra, thứ mình thực sự cần thi lại, có lẽ không phải là kỹ thuật.
Mà là cái xưởng này rốt cuộc đã tính nỗ lực của ai là của người đó.
Sau khi trở về nơi thuê trọ, cô lại tìm ra mẫu giấy của phiên bản giá đỡ đầu tiên. Lúc đó cô còn chưa biết sử dụng mô hình hóa tinh vi, chỉ dùng bìa cứng c/ắt bốn góc, cuối cùng mới tìm ra độ dốc hỗ trợ không làm cho mặt nhẫn bị lật. Trên mép bìa cứng vẫn còn vết cà phê. Những thứ không bắt mắt này không xuất hiện trong tập tác phẩm, nhưng lại chứng minh rõ ràng hơn bất kỳ bức ảnh hoàn thiện nào về việc thiết kế bắt đầu từ đâu. Cô bỏ mẫu giấy và bản thảo vào túi hồ sơ, ghi chú ngày tháng. Làm xong, cô mới gọi điện cho quản lý xin đến muộn một tiếng vào ngày mai. Cô biết mỗi bước tiếp theo đều sẽ lấy đi thời gian vốn dùng để làm việc, ngủ và chuẩn bị cho kỳ thi chứng chỉ.
Cô cũng chụp lại thông báo thi lại. Thông báo chỉ ghi đạt hay không, không có bất kỳ thứ tự đề cử nào. Điều này khiến cô càng chắc chắn hơn rằng mình không thể chỉ dùng lý lẽ "tôi điểm cao" để đòi hỏi suất thực tập, mà chỉ có thể yêu cầu các quy tắc đề cử phải được làm rõ lại. Cô viết câu này lên trang đầu của thư mục, tự nhắc nhở bản thân không được biến việc kiểm chứng sự bất công thành một kiểu suy luận có lợi cho mình.