Bà không đáp.
Nhưng cuối cùng, bà cũng lấy cuốn sổ bìa xanh của bà ngoại từ trong hộp sắt ra, nâng niu trong lòng bàn tay rồi lật trang đầu tiên.
Tôi ghé sát vào xem, công thức bánh hoa quế giống hệt trong cuốn sổ của Thính Tuyết. Cùng một người viết, cùng một cây bút.
Cuốn này lớp bìa cũ kỹ hơn nhiều, các góc đã mòn vẹt đi.
“Là chữ của bà ngoại con.”
“Mẹ từng làm cùng Hàn Vệ Đông ạ?”
Bà lắc đầu.
“Vậy tại sao tay nghề của ông ấy lại giống mẹ?”
“Cuốn sổ con đang cầm là do Thính Tuyết chép lại từ bản gốc của bà ngoại. Bản gốc đó bà ngoại đã đưa cho Hàn Vệ Đông trước khi mất.”
Tôi lật cuốn sổ bìa xanh đến trang cuối, mặt trong bìa sau có dán một mảnh băng dính trong, đ/è lên một tờ giấy nhớ đã ố vàng: “Để lại cho Vệ Đông, sau này sẽ dùng đến.”
Nói xong, bà bổ sung thêm một câu: “Bà ngoại con nói, sinh đôi mà chia cách, sau này có tìm lại được hay không là nhờ vào cái hương vị này. Lưỡi nhận người còn chuẩn hơn mắt nhìn.”
“Ông ấy đang giữ bản gốc của bà ngoại ạ?”
“Ừ. Cuốn của chị con là do nó tự chép, nét chữ khác nhau nhưng công thức thì y hệt.”
Bà ngồi xổm xuống nhìn cuốn sổ công thức của Thính Tuyết trên tay tôi, lật trang đầu tiên, chữ viết giống hệt bà ngoại. Thính Tuyết đã từng nét từng nét đồ lại, lực tay trẻ con không vững, nhưng từng nét đều đặt đúng chỗ.
“Chị ấy có biết con với chú Hàn...”
“Nó biết tất cả.”
Gấp cuốn sổ lại, bà thở dài: “Cả đời bà ngoại con chỉ lo lắng mỗi chuyện này.”
“Bà nói dù mẹ có đưa con chạy đi xa đến đâu, cả đời con cũng sẽ nhớ cái hương vị mà bà từng làm. Chỉ cần có người làm đúng cái vị đó cho con ăn, con sẽ dừng bước.”
“Mẹ còn liên lạc với chú Hàn không ạ?”
“Không. Sau khi bà ngoại con mất thì không còn liên lạc nữa.”
“Vậy sao mẹ biết ông ấy vẫn còn làm?”
Bà ngước nhìn tôi: “Ngày Thính Tuyết mất, mẹ đã gọi điện đến ban quản lý, chú Triệu bảo ông ấy ngày nào cũng bày hàng b/án mì. Mẹ biết ngay, ông ấy vẫn đang đợi.”
Bà đang đợi tôi, chú Hàn đang đợi tôi, Thính Tuyết đang đợi tôi. Hai mươi bốn tuổi tôi mới biết được điều đó.
Suốt hai mươi năm, mọi mảnh ký ức đ/ứt đoạn, mọi chỗ trống không thể lý giải—tại sao tôi nhớ những hương vị đó, tại sao tôi thấy thân thuộc lạ thường với các món bột, tại sao nằm mơ thấy có người đứng trước cửa gọi “Em gái”—tất cả đều khớp lại.
“Mẹ có h/ận con không?” Tôi nhìn mái tóc đã bạc nửa đầu, đuôi mắt đầy những nếp nhăn của bà.
Hai mươi năm trước đ/ốt sạch thư của chị, hai mươi năm sau ngồi trước mặt tôi hỏi có h/ận hay không.
“Mẹ không biết. Nhưng con phải về rồi.”
Khi thu dọn đồ đạc, bà lôi từ đáy hộp sắt ra một thứ nữa—tấm ảnh gấp thành hình vuông nhỏ.
Trải ra là hai đứa trẻ sơ sinh nằm cạnh nhau trong lồng ấp, đều nhắm mắt nhíu mày, thẻ tên trên cổ chân chạm vào nhau.
Trên đó viết “Trưởng nữ Hàn”, “Thứ nữ Thẩm”, phía sau là ba chữ được viết bằng bút bi: Hàn Thính Tuyết, Thẩm Thính Vũ.
“Tấm này mẹ giữ suốt hai mươi năm, không nỡ đ/ốt.”
Tôi quay đầu nhìn bà.
Bà ngồi cạnh bàn trà, mắt dán ch/ặt vào túi áo nơi tôi để tấm ảnh.
Bà ngập ngừng một lát, giọng trầm xuống: “Giữ nó lại... mẹ sợ mình quên mất con bé trông thế nào. Lúc chào đời thẻ tên cổ chân nó nằm sát cạnh con, ba ngày đó hai đứa nằm cạnh nhau.”
“Sau này đưa con đi, bà ngoại đưa tấm này cho mẹ, bà nói: ‘Giữ lấy một tấm đi, hai đứa trẻ dù sao cũng từ một cái bụng chui ra.’ Mẹ không mang theo tấm ảnh nào khác, chỉ mang mỗi tờ phán quyết đó.”
Tôi gấp tấm ảnh bỏ vào túi. Đến cửa, tôi quay đầu nhìn bà một cái.
Bà vẫn ngồi đó không động đậy, tay đặt bên cuốn sổ bìa xanh của bà ngoại. “Tuần sau con qua đây một chuyến nhé.”
Khi về đến khu nhà thì trời đã tối mịt.
Đèn hành lang vẫn sáng, ánh sáng hắt ra từ dưới cửa nhà chú Hàn. Tôi không về phòng mình mà gõ cửa ba cái.
Cửa mở. Ông đứng trong cửa, tạp dề vẫn đeo, ngón tay dính đầy bột mì khô. Thấy là tôi, môi ông khẽ mấp máy.
“Mẹ cháu bảo tuần sau chú qua đó.”
Ông rút tay ra khỏi đống bột, lau vào tạp dề, nắm ch/ặt lấy mép vải. Biểu cảm không thay đổi nhiều, nhưng nhịp thở rõ ràng đã khác.
“Bà ấy nói thế sao?”
“Vâng.”
Ông khựng lại: “Bà ấy chịu gặp chú rồi sao?”
“Bà ấy không nói là không chịu.”
Ông nhìn tôi vài giây, cúi đầu nhìn vết bột bám trên mũi giày, rồi từ từ ngồi xổm xuống phủi sạch. Ông cứ ngồi đó không đứng lên.
Tôi dựa vào khung cửa, lấy tấm ảnh trong lồng ấp ra đưa cho ông.
Ông ngẩng đầu nhìn thoáng qua, ánh mắt rơi vào hai đứa trẻ, cả người cứng đờ.
Đôi bàn tay nhào bột cả đời người ấy lơ lửng phía trên tấm ảnh, không dám chạm vào. Ông không biết mẹ tôi vẫn còn giữ thứ này.
“Bà ấy giữ suốt hai mươi năm, không vứt đi.” Tôi nhìn chằm chằm vào tấm ảnh hồi lâu.
Đèn cảm ứng tắt rồi lại sáng, ông vẫn không đứng lên.
“Tuần sau chú mang theo cái này luôn nhé.” Nói xong, tôi đặt tấm ảnh lên tủ giày của ông.
Khi quay người định về phòng, ông gọi tôi lại. Tôi quay đầu, thấy ông đang ngồi xổm trước cửa, ngước mắt nhìn tôi.
Không khóc, nhưng hốc mắt đỏ hoe, giọng nói rất khẽ: “Hồi nhỏ con bé có vẽ một bức tranh, hai người nắm tay nhau, phía dưới viết tên.”
“Tên gì ạ?”
“Thẩm Thính Vũ và Hàn Thính Tuyết.”